Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015

Bước chuyển biến về cơ sở hạ tầng, giáo dục miền núi

     Các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng thêm nhiều, đặc biệt là việc xây dựng và nâng cấp 4 tuyến đường: Vĩnh Hà – Vinh ô, 41 – Triệu Nguyên, Khe Sanh – Hướng Lập, Tân Long – Lìa. Đồng bào các dân tộc thiểu số được hỗ trợ về sản xuất và đời sống, tạo sự chuyển biến khá toàn diện trên các mặt. Tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm xuống, trình độ dân trí được nâng lên, mối quan hệ trong cộng đồng dân cư ngày càng mở rộng, các phong tục tập quán lạc hậu đã từng bước đẩy lùi. Sản xuất đã có những chuyển đổi cơ bản: từ phương thức sản xuất quảng canh, phát, đốt, cốt; phần lớn các xã sản xuất thâm canh, lập vườn, trồng lúa nước. Một bộ phận chuyển sang sản xuất sản phẩm hàng hoá như cà phê, hồ tiêu, cao su…

     Do biết áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đồng bào đã phát huy được thế mạnh của kinh tế vườn đồi, vườn nhà kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm. Đời sống đồng bào ngày một nâng cao, lương thực quy thóc bình quân đầu người đạt 172 kg/năm. Các hoạt động xã hội có bước phát triển; tình hình an ninh chính trị được ổn định. Cùng với việc hoàn thành tuyến đường Tà Rụt – La Lay và mở cửa khẩu La Lay, việc khai thác tiềm năng, mở rộng giao lưu kinh tế, củng cố quốc phòng an ninh, nhu cầu đi lại, trao đổi hàng hoá và thực hiện các hoạt động văn hoá của người dân miền núi được giải quyết một bước.

giáo dục miền núi


     Giáo dục – đào tạo có bước chuyển biên mạnh mẽ. Nhận thức về giáo dục – đào tạo của đồng bào được nâng cao nên phần lớn các em trong độ tuổi được đến trường. Số học sinh trong các cấp học ngày càng tăng. Đặc biệt học sinh dân tộc, miền núi được đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp được tăng lên. Đến năm 2000 đã có 69 trường học (45 trường tiểu học, 17 trường trung học cơ sở, 2 trường phổ thông trung học, 1 trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, 4 trường phổ thông dân tộc nội trú huyện), 19.674 học sinh, 787 giáo viên. Tỷ lệ học sinh đến lớp đạt 85% (năm 1996 chỉ đạt 56%), vượt chỉ tiêu Nghị quyết 5%. Cùng với cả tỉnh, miền núi đã hoàn thành phổ cập tiểu học, xoá mù chữ năm 1996.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: tinh doan quang tri, giáo dục quảng trị

Phát triển kinh tế – xã hội vùng biển

       Ngày 23-10-1996, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ 3, khoá XII ra Nghị quyết số 02-NQ/TU về phát triển kinh tế – xã hội vùng biển đến năm 2000.

        Phân tích đặc điểm tình hình, tiềm nâng và thế mạnh cũng như vị trí của vùng biển trong phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, Nghị quyết đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2000 là: Phát huy mạnh mẽ các nguồn lực về kinh tế và xã hội của vùng biến, phấn đấu tạo nên bước phát triển vững chắc về kinh tế cả vùng cửa lạch và vùng bãi ngang, đam bao cho sản xuất và đời sống nhân dân vùng biển ổn định và có bước tiến bộ mới; văn hoá xã hội phát triển; quốc phòng và an ninh được giữ vững; xây dựng hệ thông chính trị vững mạnh đủ sức lãnh đạo phong trào, tạo tiền đề cơ bản để tiếp tục đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của tỉnh.

xã hội vùng biển



       Triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 02 của Tỉnh uỷ, kinh tế – xã hội vừng biển có những bước tiến đáng khích lệ. Năng lực đánh bắt hải sản táng từ 28.500 cv năm 1995 lên 41.800 cv năm 2000 (tăng 1,46 lần). Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng từ 340 ha năm 1995 lên 944 ha năm 2000 (vượt 500 ha so với chỉ tiêu mà Nghị quyết đề ra); trong đó nuôi tôm sú táng từ 120 ha năm 1995 lên 320 ha năm 2000. sản lượng tôm nuôi táng từ 25 tấn năm 1995 lên 100 tấn năm 2000.

        Trong nông, lâm nghiệp, ngư dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con nuôi theo hướng trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện một bước đời sống. Một số loại cây trồng trên cát cho năng suất cao đã được khẳng định. Mô hình làng sinh thái ngư – nông – lâm trên vùng cát được xây dựng ở các xã bãi ngang bước đầu đưa lại kết quả khả quan. Hệ sinh thái vườn nhà kết hợp giữa trồng cây ăn quả và chăn nuôi gia cầm thu được kết quả tốt. Bằng nhiều nguồn vốn của trong và ngoài nước, công tác bảo vệ và phát triển vốn rừng vùng biển được chú trọng. Diện tích rừng trồng vùng biển năm 2000 táng 1.500 ha so với năm 1995, góp phần quan trọng cải tạo môi trường, môi sinh vùng cát.

       Cơ sở hạ tầng vùng biển không ngừng được đầu tư xây dựng. Đến năm 2000, 15/15 xã miền biển có điện. Hệ thống giao thông được đầu tư, nâng cấp, sửa chữa và xây dựng mới, nhất là đường ô tô về trung tâm các xã. Nhiều tuyến đê cát ven biển và các tuyến đêngăn mặn, chống lũ, chống xói lở ven sống, ven biển, bảo vệ sản xuất và các kênh tiêu nước được xây dựng. Kết hợp các biện pháp lâm nghiệp, nông nghiệp, thuỷ lợi, 1.980 ha đất cát đã cải tạo thành đất trồng trọt, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và thay đổi tập quán canh tác của nhân dân.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: cơ cấu kinh tế, giao duc quang tri

Hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại

         Hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại có nhiều tiến bộ. Cùng với xu thế của cả nước, công tác đối ngoại nhằm đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ để hoà nhập với thế giới và khu vực được Đảng bộ rất coi trọng. Trong 5 năm (1996-2000), tỉnh đã đẩy mạnh quan hệ với các tổ chức quốc tế như UNICEF, PAM, HCR… và các tổ chức song phương như OECF, JICA, sứ quán nhiều nước. Hợp tác và xây dựng quan hệ với nhiều tổ chức như Plan, Tầm nhìn thế giới, Hội chữ thập đở Hà Lan, Cây hoà bình Mỹ… đồng thời tập trung kiện toàn và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, tạo điều kiện thuận lợi và tuân thủ các quy định của Nhà nước để tranh thủ tốt nhất sự hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công tác vận động, tiếp xúc, xây dựng, quản lý và tổ chức thực hiện các dự án viện trợ có hiệu quả. Việc bố trí vốn đối ứng cho các dự án tích cực hơn nên số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư tăng nhanh. Nhiều dự án, chương trình do nước ngoài đầu tư đã đem lại hiệu quả lớn trong việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp nông thôn, xây dựng đô thị và hệ thống giao thông, tác động tích cực đến tình hình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tổng số vốn đầu tư của các dự án vốn nước ngoài thực hiện trong năm 1998 khoảng 76 tỷđồng, năm 1999 tăng lên gấp đôi. Năm 2000, khôi lượng thực hiện khoảng 118 tỷ đồng.

kinh tế đối ngoại


          Ngoài các dự án Chính phủ, tỉnh đã coi trọng việc kêu gọi, tiếp nhận và chỉ đạo triển khai có hiệu quả nhiều dự án phi chính phú(NGO) tài trợ trên địa bàn hầu hết các huyện, thị xã trong tỉnh góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân, nhất là đã tranh thủ được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và Việt kiều ở nước ngoài một lượng tiền, hàng khá lớn để trợ giúp cho nhân dân khắc phục hậu quả lũ lụt…

           Quan hệ truyền thống và hợp tác hữu nghị với các tỉnh bạn Lào được tăng cường, góp phần tích cực củng cố tình đoàn kết lâu đời giữa hai Đảng và hai Nhà nước. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng hàng năm tỉnh vẫn dành sự quan tâm, ưu tiên phát triển quan hệ với các tỉnh bạn Lào. Bên cạnh hai tỉnh kết nghĩa là Savannakhẹt, Salavan, tỉnh còn mở rộng quan hệ hợp tác với tĩnh Chămpasắc và Khăm Muộn. Các cuộc viếng thăm của các đoàn đại biểu cấp cao tỉnh và các tỉnh bạn Lào cùng các cuộc hội đàm, ký kết các văn bản hợp tác cũng như quan hệ trực tiếp giữa các ban, ngành, địa phương trong tỉnh với cơ chế hợp tác ưu đãi đã góp phần phát triển năng động quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt – Lào. Hàng năm, tỉnh cũng dành ngân sách và hỗ trợ công tác tư vấn kỹ thuật cho hai tỉnh kết nghĩa về giáo dục đào tạo, y tế, giao thông vận tải, phát triển nông nghiệp và cam kết cùng nhau xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị và hợp tác. Tuy nhiên, quan hệ hợp tác kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn của hai bên…

Hoạt động tài chính – ngân sách thời kì đổi mới

         Lĩnh vực tài chính – ngân sách có những chuyển biến tích cực, công tác thu, chỉ có tiến bộ. Nguồn thu ngân sách hàng năm từ nội bộ nền kinh tế đểu tăng; thu từ xuất nhập khẩu bình quân 5 năm đạt trên 300 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 1995. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2000 đạt 254,4 tỷ đồng, 5 năm đạt 1.734 tỷ đồng, tăng 1.177 tỷ đồng so với 5 năm trước. Tổng chi ngân sách địa phương 5 năm đạt 1.570 tỷ đồng, nhịp độ tàng bình quân hàng năm là 17,1%.

         Các hoạt động dịch vụ về tài chính, ngân hàng được củng cố và phát triển. Công tác quản lý, lưu thông tiền tệ cơ bản ổn định. Phương thức hoạt động kinh doanh của ngân hàng có nhiều đổi mới và tiến bộ. Công tác huy động vốn được thực hiện bằng nhiều biện pháp nên nguồn vốn huy động tăng khá nhanh, đến năm 2000 đạt 600 tỷ đồng, tăng 2,4 lần so với 5 năm trước, trong đó vay trung hạn và dài hạn chiếm 60%. Tỷ trọng các loại kỳ phiêu, trái phiếu có chiều hướng táng và đáp ứng các nhu cầu về tiền mặt và thanh toán trên địa bàn, giảm dần bội chi tiền mặt và kiềm chế lạm phát, nhất là việc đảm bảo thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cho vay vốín đến hộ sản xuất. Hoạt động tín dụng được mở rộng. Chất lượng tín dụng ngày càng được nâng lên và đã bám sát các mục tiêu quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Việc tập trung nguồn vốn cho vay trung và dài hạn cho các ngành nghề sản xuất như: xi măng, gạch tuynen, cây công nghiệp dài ngày đã góp phần quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, thúc đẩy các thành phần kinh tế trên địa bàn phát triển và có tăng trưởng.

tài chính – ngân sách


        Ngân hàng phục vụ người nghèo có dư nợ 66 tỷ đồng, với 32.175 hộ được vay. Tỷ lệ dư nợ quá hạn chỉ chiếm 2%, góp phần tích cực trong việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo.

        Tuy nhiên, ngành dịch vụ, thương mại ở vùng sâu, vùng xa kém phát triển. Hoạt động du lịch yếu và chậm phát triển, chưa phát huy được lợi thế của một tỉnh có nhiều di tích lịch sử chiến tranh cách mạng. Thu ngán sách thiếu vững chắc, nguồn thu nội bộ nển kinh tế còn thấp (chỉ chiếm 31% tổng thu), mới đáp ứng được 45% nhu cầu chi. Quản lý tài sàn quốc gia, tài chính công và tài chính doanh nghiệp nhà nước chưa chật chẽ. Số dư nợ của các tổ chức tín dụng tháp. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế nhà nước thấp. Số doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ hoặc không có lãi chiếm 31%. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chủ yếu phát triển vào các ngành dịch vụ và xây dựng (chiếm 83%). Nguồn hàng xuất khẩu chưa ổn định, khối lượng, chất lượng còn thấp, thị trường hạn hẹp. Công tác lập dự án đầu tư và gọi đầu tư còn nhiều hạn chế.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: ubnd quảng trị, giao duc quang tri

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015

Hoạt động dịch vụ – thương mại thời kì đổi mới ở Quảng Trị

         Hoạt động dịch vụ – thương mại ngày càng phục vụ tốt hơn đời sống xã hội, mạng lưới hình thành rộng hơn, hàng hoá phong phú, lưu thông thông thoáng. Nhịp độ tăng trưởng hàng năm đạt 14,4%. Hoạt động xuất nhập khẩu năng động, tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm thực hiện hơn 80 triệu USD, năm 2000 đạt 21,4 triệu USD. Kim ngạch nhập khẩu 5 năm đạt hơn 70 triệu USD.

          Hoạt động kinh doanh thương mại – dịch vụ – du lịch của các thành phần kinh tế ngày càng phát triển mạnh, không ngừng mở rộng và củng cố sản xuất – kinh doanh, tìm kiếm thị trường, mặt hàng mới, đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, góp phần thúc đẩy sản xuất trong tỉnh phát triển. Các doanh nghiệp nhà nước đã giữ được vai trò trên thị trường, có khả năng chi phối được tình hình lưu thông hàng hoá và chiếm phần lớn tỷ trọng kim ngạch xuất, nhập khẩu của cả tỉnh.

thương mại – dịch vụ


        Các hoạt động kinh doanh phục vụ cung ứng vật tư hàng hoá, phục vụ sản xuất, xây dựng, phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa luôn được đảm bảo, tổ chức ứng cứu và phục vụ đồng bào bị lũ lụt nhanh chóng, kịp thời; góp phần tích cực vào việc ổn định tình hình giá cả thị trường trên địa bàn tỉnh. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ kinh doanh cá thể ngày càng phát triển với nhiều ngành nghề, loại hình quy mô kinh doanh đa dạng, phong phú, tạo nên một thị trường sôi động, chiếm trên 80% tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ xã hội; kích thích sự cạnh tranh; tạo động lực thúc đẩy sự phát triển giữa các thành phần kinh tế; thu hút một lực lượng lớn lao động. Đến năm 2000, toàn tỉnh có 46 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 11.500 hộ kinh doanh cá thể với gần 13.000 lao động.

        Ngày 16-3-2000, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị về nhiệm vụ phát triển du lịch. Nhìn chung công tác du lịch đã có một số kết quả bước đầu.


Đọc thêm tại:

Bưu chính viễn thông, cơ sở hạ tầng thời kì mới

        Đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – văn hoá, mạng lưới bưu chính viễn thông phát triển khá nhanh. Đến năm 2000, 100% huyện, thị xã có hệ thống viba số. 100/136 xã, phường, thị trấn có điện thoại. Đã xây dựng 33 bưu cục, tăng 43,5%, 77 điểm bưu điện văn hoá xã. Mạng viễn thông công cộng với 26 tổng đài, số máy cố định trên mạng đạt 24.818 máy. Mật độ điện thoại đạt 2,8 máy/100 dân, tăng 2,5 lần so với năm 1995.

        Cùng với sự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo chính quyền chú trọng xây dựng các công trình phúc lợi xã hội nhằm đẩy mạnh chiến lược chăm lo phát triển con người. Bên cạnh việc sửa chữa các cơ sở hư hỏng, đã tập trung xây dựng trường học kiên cố và cao tầng (năm 1990 có 3 trường, đến 1996 có 56 trường và năm 2000 có 162 trường). Hệ thống y tế được củng cố và mở rộng, đã xây dựng mới bệnh viện đa khoa tỉnh, 6 trung tâm y tế huyện, 2 trung tâm kỹ thuật và 70 trạm y tế xã, phường, thị trấn. Nâng cấp xây dựng mới nhà văn hoá tỉnh, nhà văn hoá thiếu nhi, nhà văn hoá các huyện, thị xã và một số di tích lịch sử trọng điểm như di tích Nhà đày Lao Bảo, Thành cổ Quảng Trị, Địa đạo Vịnh Mốc. Cơ sở vật chất của Đài Phát thanh, truyền hình, Báo Quảng Trị, các cơ sỗ thể dục thể thao được xây dựng và bổ sung trang thiết bị. Hệ thông chợ ở đô thị, nông thôn được đầu tưmở rộng; chương trình nước sạch thực hiện ở nhiều địa phương Hình thành 2 tuyến đô thị dọc tuyên Quốc lộ 1 và Quốc lộ 9. Diện mạo các thị xã, thị trấn, thị tứ và nhiều vùng nông thôn thay đổi sâu sắc. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Trên 60% nhà ở của nhân dân được kiên cố và bán kiên cố. Số hộ có xe máy, phương tiện nghe nhìn tăng nhanh.

Bưu chính viễn thông


       Mặc dù vậy, ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của tỉnh vẫn còn nhiều yếu kém: Các doanh nghiệp nhà nước đang lúng túng trong đầu tư chiều sâu, phương án sản xuất, phương án sản phẩm thiếu đa dạng không đủ sức cạnh tranh với tỉnh bạn và nước ngoài. Một số doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, hàng năm không hoàn thành chỉ tiêu nộp ngân sách Nhà nước. Mô hình phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương huyện, thị xã vẫn còn tự phát, manh mún và quy mô nhở. Do đó, công nghiệp phát triển chậm, một số dự án đề ra không thực hiện được. Tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế thấp, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế công, nông nghiệp – thương mại – dịch vụ không đạt. Đầu tư xây dựng vẫn còn dàn trải, quản lý chưa chặt chẽ. Chất lượng một số công trình thấp. Tình trạng lãng phí, thất thoát còn lớn. Quy hoạch và quản lý quy hoạch còn nhiều yếu kém.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: ubnd quang tri, giáo dục quảng trị

Giao thông thủy lợi trong thời kì công nghiệp hóa

      Thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tỉnh đã đầu tư mở rộng mạng lưới điện, đặc biệt là chương trình điện khí hoá nông thôn. Đến năm 2000, xây dựng được 16 trạm biến áp trung gian với dung lượng 72.776 KVA, gấp 2 lần so với năm 1996. Điện lưới quốc gia đã đến 115/136 xã phường, thị trân, với trên 10 vạn hộ sử dụng điện, đạt 85,5%.

        Hệ thống giao thông được nâng cấp và xây dựng mới ở cả thành thị, nông thôn, miền núi, miền biển. Cùng với Quốc lộ I, Quốc lộ 9 được nâng cấp, nhiều tuyến đường quan trọng được mở ra và phát huy hiệu quả. Phong trào xây dựng giao thông nông thôn được triển khai tích cực. Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”; các huyện, thị xã tích cực huy động nguồn vốn từ các chương trình, dự án, kết hợp với sức lao động của nhân dân, tận dụng vật liệu tại chỗ để xây dựng giao thông nông thôn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đi lại của nhân dân và lưu thông hàng hoá. Đặc biệt một s huyện thường bị ngập lụt đã phát động phong trào kiên cố hoá giao thông nông thôn bằng bê tông xi măng. Sự nỗ lực to lớn của các cấp uỷ đảng, chính quyền và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân đã tạo ra một hệ thông giao thông tương đối hoàn chỉnh nôi liền thành thị với nông thôn; thị trấn, thị tứ với vùng sâu, vùng xa. Đến năm 2000 có 132/136 xã, phường có đường ô tô về trung tâm. Tổng vôh đầu tư phát triển giao thông vận tải trong 5 năm đạt khoảng 490,2 tỷ đồng, chiếm 25,34% tổng sô” vôh đầu tư trên địa bàn. Hệ thông giao thông phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng. Các đơn vị vận tải đã chủ động khai thác các nguồn hàng tại địa phương và khu vực, đáp ứng nhu cầu việc làm cho người lao động, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước.

Giao thông thủy lợi


       Thuỷ lợi là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển nông nghiệp toàn diện nên toàn tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng. Nhiều công trình có quy mô khá lớn đã hoàn thành như Trúc Kinh, Bảo Đài, đập ngăn mặn Việt Yên. Công trình nam Thạch Hãn được củng cố và nâng cấp. Hệ thống hồ đập, trạm bơm, đê kè, kiên cố hoá kênh mương, hệ thông thuỷ lợi miền núi, các chương trình chống cát bay, cát lấp… thực hiện tích cực. Đến năm 2000, trên địa bàn toàn tỉnh có 237 công trình lớn, vừa và nhở; kênh mương chủ động tưới cho 70% diện tích lúa nước (tăng 10% so với năm 1995).

Từ khóa tìm kiếm nhiều: ubnd tinh quang tri, giao duc quang tri