Thứ Năm, 25 tháng 6, 2015
Các công trình cơ sở hạ tầng được xây dựng thêm nhiều, đặc biệt là việc xây dựng và nâng cấp 4 tuyến đường: Vĩnh Hà – Vinh ô, 41 – Triệu Nguyên, Khe Sanh – Hướng Lập, Tân Long – Lìa. Đồng bào các dân tộc thiểu số được hỗ trợ về sản xuất và đời sống, tạo sự chuyển biến khá toàn diện trên các mặt. Tỷ lệ hộ đói nghèo đã giảm xuống, trình độ dân trí được nâng lên, mối quan hệ trong cộng đồng dân cư ngày càng mở rộng, các phong tục tập quán lạc hậu đã từng bước đẩy lùi. Sản xuất đã có những chuyển đổi cơ bản: từ phương thức sản xuất quảng canh, phát, đốt, cốt; phần lớn các xã sản xuất thâm canh, lập vườn, trồng lúa nước. Một bộ phận chuyển sang sản xuất sản phẩm hàng hoá như cà phê, hồ tiêu, cao su…
Do biết áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nên đồng bào đã phát huy được thế mạnh của kinh tế vườn đồi, vườn nhà kết hợp chăn nuôi gia súc, gia cầm. Đời sống đồng bào ngày một nâng cao, lương thực quy thóc bình quân đầu người đạt 172 kg/năm. Các hoạt động xã hội có bước phát triển; tình hình an ninh chính trị được ổn định. Cùng với việc hoàn thành tuyến đường Tà Rụt – La Lay và mở cửa khẩu La Lay, việc khai thác tiềm năng, mở rộng giao lưu kinh tế, củng cố quốc phòng an ninh, nhu cầu đi lại, trao đổi hàng hoá và thực hiện các hoạt động văn hoá của người dân miền núi được giải quyết một bước.
Giáo dục – đào tạo có bước chuyển biên mạnh mẽ. Nhận thức về giáo dục – đào tạo của đồng bào được nâng cao nên phần lớn các em trong độ tuổi được đến trường. Số học sinh trong các cấp học ngày càng tăng. Đặc biệt học sinh dân tộc, miền núi được đào tạo ở các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp được tăng lên. Đến năm 2000 đã có 69 trường học (45 trường tiểu học, 17 trường trung học cơ sở, 2 trường phổ thông trung học, 1 trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh, 4 trường phổ thông dân tộc nội trú huyện), 19.674 học sinh, 787 giáo viên. Tỷ lệ học sinh đến lớp đạt 85% (năm 1996 chỉ đạt 56%), vượt chỉ tiêu Nghị quyết 5%. Cùng với cả tỉnh, miền núi đã hoàn thành phổ cập tiểu học, xoá mù chữ năm 1996.
Từ khóa tìm kiếm nhiều:
tinh doan quang tri, giáo
dục quảng trị
Ngày 23-10-1996, Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ 3, khoá XII ra Nghị quyết số 02-NQ/TU về phát triển kinh tế – xã hội vùng biển đến năm 2000.
Phân tích đặc điểm tình hình, tiềm nâng và thế mạnh cũng như vị trí của vùng biển trong phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh, Nghị quyết đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2000 là: Phát huy mạnh mẽ các nguồn lực về kinh tế và xã hội của vùng biến, phấn đấu tạo nên bước phát triển vững chắc về kinh tế cả vùng cửa lạch và vùng bãi ngang, đam bao cho sản xuất và đời sống nhân dân vùng biển ổn định và có bước tiến bộ mới; văn hoá xã hội phát triển; quốc phòng và an ninh được giữ vững; xây dựng hệ thông chính trị vững mạnh đủ sức lãnh đạo phong trào, tạo tiền đề cơ bản để tiếp tục đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá của tỉnh.
Triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là Nghị quyết 02 của Tỉnh uỷ, kinh tế – xã hội vừng biển có những bước tiến đáng khích lệ. Năng lực đánh bắt hải sản táng từ 28.500 cv năm 1995 lên 41.800 cv năm 2000 (tăng 1,46 lần). Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng từ 340 ha năm 1995 lên 944 ha năm 2000 (vượt 500 ha so với chỉ tiêu mà Nghị quyết đề ra); trong đó nuôi tôm sú táng từ 120 ha năm 1995 lên 320 ha năm 2000. sản lượng tôm nuôi táng từ 25 tấn năm 1995 lên 100 tấn năm 2000.
Trong nông, lâm nghiệp, ngư dân thực hiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, con nuôi theo hướng trồng các loại cây có giá trị kinh tế cao, phù hợp với nhu cầu thị trường, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập và cải thiện một bước đời sống. Một số loại cây trồng trên cát cho năng suất cao đã được khẳng định. Mô hình làng sinh thái ngư – nông – lâm trên vùng cát được xây dựng ở các xã bãi ngang bước đầu đưa lại kết quả khả quan. Hệ sinh thái vườn nhà kết hợp giữa trồng cây ăn quả và chăn nuôi gia cầm thu được kết quả tốt. Bằng nhiều nguồn vốn của trong và ngoài nước, công tác bảo vệ và phát triển vốn rừng vùng biển được chú trọng. Diện tích rừng trồng vùng biển năm 2000 táng 1.500 ha so với năm 1995, góp phần quan trọng cải tạo môi trường, môi sinh vùng cát.
Cơ sở hạ tầng vùng biển không ngừng được đầu tư xây dựng. Đến năm 2000, 15/15 xã miền biển có điện. Hệ thống giao thông được đầu tư, nâng cấp, sửa chữa và xây dựng mới, nhất là đường ô tô về trung tâm các xã. Nhiều tuyến đê cát ven biển và các tuyến đêngăn mặn, chống lũ, chống xói lở ven sống, ven biển, bảo vệ sản xuất và các kênh tiêu nước được xây dựng. Kết hợp các biện pháp lâm nghiệp, nông nghiệp, thuỷ lợi, 1.980 ha đất cát đã cải tạo thành đất trồng trọt, góp phần chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi và thay đổi tập quán canh tác của nhân dân.
Đọc thêm tại : http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/hoat-ong-oi-ngoai-va-kinh-te-oi-ngoai.html
Hoạt động đối ngoại và kinh tế đối ngoại có nhiều tiến bộ. Cùng với xu thế của cả nước, công tác đối ngoại nhằm đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ để hoà nhập với thế giới và khu vực được Đảng bộ rất coi trọng. Trong 5 năm (1996-2000), tỉnh đã đẩy mạnh quan hệ với các tổ chức quốc tế như UNICEF, PAM, HCR… và các tổ chức song phương như OECF, JICA, sứ quán nhiều nước. Hợp tác và xây dựng quan hệ với nhiều tổ chức như Plan, Tầm nhìn thế giới, Hội chữ thập đở Hà Lan, Cây hoà bình Mỹ… đồng thời tập trung kiện toàn và nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, tạo điều kiện thuận lợi và tuân thủ các quy định của Nhà nước để tranh thủ tốt nhất sự hợp tác quốc tế, đẩy mạnh công tác vận động, tiếp xúc, xây dựng, quản lý và tổ chức thực hiện các dự án viện trợ có hiệu quả. Việc bố trí vốn đối ứng cho các dự án tích cực hơn nên số lượng dự án và quy mô vốn đầu tư tăng nhanh. Nhiều dự án, chương trình do nước ngoài đầu tư đã đem lại hiệu quả lớn trong việc đẩy mạnh phát triển nông nghiệp nông thôn, xây dựng đô thị và hệ thống giao thông, tác động tích cực đến tình hình phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Tổng số vốn đầu tư của các dự án vốn nước ngoài thực hiện trong năm 1998 khoảng 76 tỷđồng, năm 1999 tăng lên gấp đôi. Năm 2000, khôi lượng thực hiện khoảng 118 tỷ đồng.
Ngoài các dự án Chính phủ, tỉnh đã coi trọng việc kêu gọi, tiếp nhận và chỉ đạo triển khai có hiệu quả nhiều dự án phi chính phú(NGO) tài trợ trên địa bàn hầu hết các huyện, thị xã trong tỉnh góp phần xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân, nhất là đã tranh thủ được sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế và Việt kiều ở nước ngoài một lượng tiền, hàng khá lớn để trợ giúp cho nhân dân khắc phục hậu quả lũ lụt…
Quan hệ truyền thống và hợp tác hữu nghị với các tỉnh bạn Lào được tăng cường, góp phần tích cực củng cố tình đoàn kết lâu đời giữa hai Đảng và hai Nhà nước. Mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng hàng năm tỉnh vẫn dành sự quan tâm, ưu tiên phát triển quan hệ với các tỉnh bạn Lào. Bên cạnh hai tỉnh kết nghĩa là Savannakhẹt, Salavan, tỉnh còn mở rộng quan hệ hợp tác với tĩnh Chămpasắc và Khăm Muộn. Các cuộc viếng thăm của các đoàn đại biểu cấp cao tỉnh và các tỉnh bạn Lào cùng các cuộc hội đàm, ký kết các văn bản hợp tác cũng như quan hệ trực tiếp giữa các ban, ngành, địa phương trong tỉnh với cơ chế hợp tác ưu đãi đã góp phần phát triển năng động quan hệ hữu nghị đặc biệt Việt – Lào. Hàng năm, tỉnh cũng dành ngân sách và hỗ trợ công tác tư vấn kỹ thuật cho hai tỉnh kết nghĩa về giáo dục đào tạo, y tế, giao thông vận tải, phát triển nông nghiệp và cam kết cùng nhau xây dựng biên giới hoà bình, hữu nghị và hợp tác. Tuy nhiên, quan hệ hợp tác kinh tế vẫn chưa tương xứng với tiềm năng và mong muốn của hai bên…
Đọc thêm tại : http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/hoat-ong-tai-chinh-ngan-sach-thoi-ki-oi.html
Lĩnh vực tài chính – ngân sách có những chuyển biến tích cực, công tác thu, chỉ có tiến bộ. Nguồn thu ngân sách hàng năm từ nội bộ nền kinh tế đểu tăng; thu từ xuất nhập khẩu bình quân 5 năm đạt trên 300 tỷ đồng, tăng 30% so với năm 1995. Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn năm 2000 đạt 254,4 tỷ đồng, 5 năm đạt 1.734 tỷ đồng, tăng 1.177 tỷ đồng so với 5 năm trước. Tổng chi ngân sách địa phương 5 năm đạt 1.570 tỷ đồng, nhịp độ tàng bình quân hàng năm là 17,1%.
Các hoạt động dịch vụ về tài chính, ngân hàng được củng cố và phát triển. Công tác quản lý, lưu thông tiền tệ cơ bản ổn định. Phương thức hoạt động kinh doanh của ngân hàng có nhiều đổi mới và tiến bộ. Công tác huy động vốn được thực hiện bằng nhiều biện pháp nên nguồn vốn huy động tăng khá nhanh, đến năm 2000 đạt 600 tỷ đồng, tăng 2,4 lần so với 5 năm trước, trong đó vay trung hạn và dài hạn chiếm 60%. Tỷ trọng các loại kỳ phiêu, trái phiếu có chiều hướng táng và đáp ứng các nhu cầu về tiền mặt và thanh toán trên địa bàn, giảm dần bội chi tiền mặt và kiềm chế lạm phát, nhất là việc đảm bảo thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước về cho vay vốín đến hộ sản xuất. Hoạt động tín dụng được mở rộng. Chất lượng tín dụng ngày càng được nâng lên và đã bám sát các mục tiêu quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Việc tập trung nguồn vốn cho vay trung và dài hạn cho các ngành nghề sản xuất như: xi măng, gạch tuynen, cây công nghiệp dài ngày đã góp phần quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, thúc đẩy các thành phần kinh tế trên địa bàn phát triển và có tăng trưởng.
Ngân hàng phục vụ người nghèo có dư nợ 66 tỷ đồng, với 32.175 hộ được vay. Tỷ lệ dư nợ quá hạn chỉ chiếm 2%, góp phần tích cực trong việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo.
Tuy nhiên, ngành dịch vụ, thương mại ở vùng sâu, vùng xa kém phát triển. Hoạt động du lịch yếu và chậm phát triển, chưa phát huy được lợi thế của một tỉnh có nhiều di tích lịch sử chiến tranh cách mạng. Thu ngán sách thiếu vững chắc, nguồn thu nội bộ nển kinh tế còn thấp (chỉ chiếm 31% tổng thu), mới đáp ứng được 45% nhu cầu chi. Quản lý tài sàn quốc gia, tài chính công và tài chính doanh nghiệp nhà nước chưa chật chẽ. Số dư nợ của các tổ chức tín dụng tháp. Hiệu quả sản xuất kinh doanh của khu vực kinh tế nhà nước thấp. Số doanh nghiệp nhà nước làm ăn thua lỗ hoặc không có lãi chiếm 31%. Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh chủ yếu phát triển vào các ngành dịch vụ và xây dựng (chiếm 83%). Nguồn hàng xuất khẩu chưa ổn định, khối lượng, chất lượng còn thấp, thị trường hạn hẹp. Công tác lập dự án đầu tư và gọi đầu tư còn nhiều hạn chế.
Thứ Tư, 24 tháng 6, 2015
Hoạt động dịch vụ – thương mại ngày càng phục vụ tốt hơn đời sống xã hội, mạng lưới hình thành rộng hơn, hàng hoá phong phú, lưu thông thông thoáng. Nhịp độ tăng trưởng hàng năm đạt 14,4%. Hoạt động xuất nhập khẩu năng động, tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm thực hiện hơn 80 triệu USD, năm 2000 đạt 21,4 triệu USD. Kim ngạch nhập khẩu 5 năm đạt hơn 70 triệu USD.
Hoạt động kinh doanh thương mại – dịch vụ – du lịch của các thành phần kinh tế ngày càng phát triển mạnh, không ngừng mở rộng và củng cố sản xuất – kinh doanh, tìm kiếm thị trường, mặt hàng mới, đáp ứng được nhu cầu cho sản xuất và tiêu dùng của nhân dân, góp phần thúc đẩy sản xuất trong tỉnh phát triển. Các doanh nghiệp nhà nước đã giữ được vai trò trên thị trường, có khả năng chi phối được tình hình lưu thông hàng hoá và chiếm phần lớn tỷ trọng kim ngạch xuất, nhập khẩu của cả tỉnh.
Các hoạt động kinh doanh phục vụ cung ứng vật tư hàng hoá, phục vụ sản xuất, xây dựng, phục vụ đồng bào miền núi, vùng sâu, vùng xa luôn được đảm bảo, tổ chức ứng cứu và phục vụ đồng bào bị lũ lụt nhanh chóng, kịp thời; góp phần tích cực vào việc ổn định tình hình giá cả thị trường trên địa bàn tỉnh. Các doanh nghiệp ngoài quốc doanh và hộ kinh doanh cá thể ngày càng phát triển với nhiều ngành nghề, loại hình quy mô kinh doanh đa dạng, phong phú, tạo nên một thị trường sôi động, chiếm trên 80% tổng mức lưu chuyển hàng hoá bán lẻ xã hội; kích thích sự cạnh tranh; tạo động lực thúc đẩy sự phát triển giữa các thành phần kinh tế; thu hút một lực lượng lớn lao động. Đến năm 2000, toàn tỉnh có 46 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 11.500 hộ kinh doanh cá thể với gần 13.000 lao động.
Ngày 16-3-2000, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Chỉ thị về nhiệm vụ phát triển du lịch. Nhìn chung công tác du lịch đã có một số kết quả bước đầu.
Đọc thêm tại:
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/04/thanh-tuu-trong-y-te-va-giao-duc-quang.html
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/buu-chinh-vien-thong-co-so-ha-tang-thoi.html
Đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – văn hoá, mạng lưới bưu chính viễn thông phát triển khá nhanh. Đến năm 2000, 100% huyện, thị xã có hệ thống viba số. 100/136 xã, phường, thị trấn có điện thoại. Đã xây dựng 33 bưu cục, tăng 43,5%, 77 điểm bưu điện văn hoá xã. Mạng viễn thông công cộng với 26 tổng đài, số máy cố định trên mạng đạt 24.818 máy. Mật độ điện thoại đạt 2,8 máy/100 dân, tăng 2,5 lần so với năm 1995.
Cùng với sự đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất, Đảng bộ tỉnh đã chỉ đạo chính quyền chú trọng xây dựng các công trình phúc lợi xã hội nhằm đẩy mạnh chiến lược chăm lo phát triển con người. Bên cạnh việc sửa chữa các cơ sở hư hỏng, đã tập trung xây dựng trường học kiên cố và cao tầng (năm 1990 có 3 trường, đến 1996 có 56 trường và năm 2000 có 162 trường). Hệ thống y tế được củng cố và mở rộng, đã xây dựng mới bệnh viện đa khoa tỉnh, 6 trung tâm y tế huyện, 2 trung tâm kỹ thuật và 70 trạm y tế xã, phường, thị trấn. Nâng cấp xây dựng mới nhà văn hoá tỉnh, nhà văn hoá thiếu nhi, nhà văn hoá các huyện, thị xã và một số di tích lịch sử trọng điểm như di tích Nhà đày Lao Bảo, Thành cổ Quảng Trị, Địa đạo Vịnh Mốc. Cơ sở vật chất của Đài Phát thanh, truyền hình, Báo Quảng Trị, các cơ sỗ thể dục thể thao được xây dựng và bổ sung trang thiết bị. Hệ thông chợ ở đô thị, nông thôn được đầu tưmở rộng; chương trình nước sạch thực hiện ở nhiều địa phương Hình thành 2 tuyến đô thị dọc tuyên Quốc lộ 1 và Quốc lộ 9. Diện mạo các thị xã, thị trấn, thị tứ và nhiều vùng nông thôn thay đổi sâu sắc. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ngày càng được cải thiện. Trên 60% nhà ở của nhân dân được kiên cố và bán kiên cố. Số hộ có xe máy, phương tiện nghe nhìn tăng nhanh.
Mặc dù vậy, ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp của tỉnh vẫn còn nhiều yếu kém: Các doanh nghiệp nhà nước đang lúng túng trong đầu tư chiều sâu, phương án sản xuất, phương án sản phẩm thiếu đa dạng không đủ sức cạnh tranh với tỉnh bạn và nước ngoài. Một số doanh nghiệp kinh doanh kém hiệu quả, hàng năm không hoàn thành chỉ tiêu nộp ngân sách Nhà nước. Mô hình phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp ở các địa phương huyện, thị xã vẫn còn tự phát, manh mún và quy mô nhở. Do đó, công nghiệp phát triển chậm, một số dự án đề ra không thực hiện được. Tỷ trọng công nghiệp trong nền kinh tế thấp, mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế công, nông nghiệp – thương mại – dịch vụ không đạt. Đầu tư xây dựng vẫn còn dàn trải, quản lý chưa chặt chẽ. Chất lượng một số công trình thấp. Tình trạng lãng phí, thất thoát còn lớn. Quy hoạch và quản lý quy hoạch còn nhiều yếu kém.
Thực hiện công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tỉnh đã đầu tư mở rộng mạng lưới điện, đặc biệt là chương trình điện khí hoá nông thôn. Đến năm 2000, xây dựng được 16 trạm biến áp trung gian với dung lượng 72.776 KVA, gấp 2 lần so với năm 1996. Điện lưới quốc gia đã đến 115/136 xã phường, thị trân, với trên 10 vạn hộ sử dụng điện, đạt 85,5%.
Hệ thống giao thông được nâng cấp và xây dựng mới ở cả thành thị, nông thôn, miền núi, miền biển. Cùng với Quốc lộ I, Quốc lộ 9 được nâng cấp, nhiều tuyến đường quan trọng được mở ra và phát huy hiệu quả. Phong trào xây dựng giao thông nông thôn được triển khai tích cực. Thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”; các huyện, thị xã tích cực huy động nguồn vốn từ các chương trình, dự án, kết hợp với sức lao động của nhân dân, tận dụng vật liệu tại chỗ để xây dựng giao thông nông thôn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đi lại của nhân dân và lưu thông hàng hoá. Đặc biệt một số huyện thường bị ngập lụt đã phát động phong trào kiên cố hoá giao thông nông thôn bằng bê tông xi măng. Sự nỗ lực to lớn của các cấp uỷ đảng, chính quyền và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân đã tạo ra một hệ thông giao thông tương đối hoàn chỉnh nôi liền thành thị với nông thôn; thị trấn, thị tứ với vùng sâu, vùng xa. Đến năm 2000 có 132/136 xã, phường có đường ô tô về trung tâm. Tổng vôh đầu tư phát triển giao thông vận tải trong 5 năm đạt khoảng 490,2 tỷ đồng, chiếm 25,34% tổng sô” vôh đầu tư trên địa bàn. Hệ thông giao thông phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu kinh tế, văn hoá giữa các vùng. Các đơn vị vận tải đã chủ động khai thác các nguồn hàng tại địa phương và khu vực, đáp ứng nhu cầu việc làm cho người lao động, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với Nhà nước.
Thuỷ lợi là một trong những biện pháp quan trọng hàng đầu để phát triển nông nghiệp toàn diện nên toàn tỉnh đã tập trung đầu tư xây dựng. Nhiều công trình có quy mô khá lớn đã hoàn thành như Trúc Kinh, Bảo Đài, đập ngăn mặn Việt Yên. Công trình nam Thạch Hãn được củng cố và nâng cấp. Hệ thống hồ đập, trạm bơm, đê kè, kiên cố hoá kênh mương, hệ thông thuỷ lợi miền núi, các chương trình chống cát bay, cát lấp… thực hiện tích cực. Đến năm 2000, trên địa bàn toàn tỉnh có 237 công trình lớn, vừa và nhở; kênh mương chủ động tưới cho 70% diện tích lúa nước (tăng 10% so với năm 1995).
Đọc thêm tại : http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/kinh-te-tu-nhan-va-xay-dung-co-ban-thoi.html
Luật Doanh nghiệp ra đời đã tạo điều kiện thuận lợi để các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần đăng ký kinh doanh đúng quy định. Đến năm 2000, trên địa bàn tỉnh có 190 doanh nghiệp, trong đó doanh nghiệp ngành xây dựng và dịch vụ chiếm 68%, ngành công nghiệp chế biến chiếm 12%, các ngành khác chiếm 20%. Phần lớn các doanh nghiệp sau khi đáng ký kinh doanh đã hoạt động đúng quy định. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu có tác động đến mức độ tăng trưởng của ngành công nghiệp và tình hình kinh tế – xã hội của tỉnh đều có mức tăng bình quân hàng năm khá cao, như: điện thương phẩm tăng 19%, xi măng tăng 10,3%, gạch tăng 13,8%, đá xây dựng tăng 11,7%, chế biên hải sản đông lạnh tăng 1,4%, nước máy tăng 15,9%, v.v…
Kinh tế tư nhân là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Nhiều doanh nghiệp mới ra đời, huy động thêm năng lực, mở rộng quy mô, địa bàn hoạt động, có nhiều mặt hàng, sản phẩm có chất lượng, mẫu mã đẹp, tăng tính cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường trong và ngoài nước, thể hiện sức vươn lên mạnh mẽ. Đến năm 2000 đã có 5.660 cơ sở sản xuất kinh doanh, tăng gấp 3,5 lần năm 1990.
Xây dựng cơ bản và xây dựng hạ tầng cơ sở đạt được những kết quả quan trọng. Trong 5 năm, Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh đã tập trung sức thực hiện chủ trương phát huy nguồn nội lực và huy động các nguồn vốntrong và ngoài nước. Nguồn vốn đầu tư tăng nhanh, tạo điều kiện đầu tư nâng cao năng lực sản xuất, đáp ứng những yêu cầu bức thiết của nền kinh tế – xã hội. Trong đó, ưu tiên đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đạt nhiều thành tựu quan trọng, phục vụ tốt phát triển kinh tế và dân sinh. Tổng số vốn đầu tư 5 năm đạt 1.935 tỷ đồng.
Ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tiếp tục duy trì nhịp độ tăng trưởng, bước đầu phát huy được thế mạnh, tiềm năng của tỉnh. Kế hoạch thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII của Tỉnh uỷ đã nêu rõ nhiệm vụ cụ thể: Chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả các cơ sở công nghiệp đã có, nhất là các doanh nghiệp nhà nước đã được đầu tư nâng cấp công nghệ, thiết bị… Tiến hành quy hoạch và thành lập Ban quản lý các dự án khu công nghiệp tập trung. Có cơ chế thích hợp gọi vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế cho khu công nghiệp. Với các chính sách đúng đắn đó, ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp trong 5 năm đã vượt qua nhiều khó khăn, đạt được một số kết quả.
Tỉnh đã đầu tư xây dựng được một số cơ sở hạ tầng kinh tế công nghiệp bước đầu mang lại hiệu quả. Một số công trình sản xuất công nghiệp mới được xây dựng như nhà máy xi măng 8,2 vạn tấn/năm; dây chuyền gạch 20 triệu viên/năm; dây chuyền khai thác chế biên titan 3.000 tấn/năm; dây chuyền nghiền đá 50 m3/giờ; dây chuyền chế biến cà phê 50 tấn/ngày và dây chuyền sơ chế cao su và một sô” cơ sở công nghiệp quy mô vừa và nhỏ như: sản xuất cơ khí, lắp ráp xe máy, lắp ráp điện tử, sản xuất cấu kiện xây dựng phục vụ xây dựng điện, thuỷ lợi, giao thông…
Ngành công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp giữ được nhịp độ tăng trưởng tương đôi ổn định (13,6%), giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm 11,9%. Thế mạnh về công nghiệp vật liệu xây dựng được phát huy, hai sản phẩm chính là xi măng và gạch có hiệu quả kinh tế cao. Công nghiệp, thủ công nghiệp khai khoáng, chế biên phân lân vi sinh, chế biên thuỷ, hải sản được củng cố và đạt tiên bộ bước đầu. Công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển ổn định, tăng trưởng vững chắc, một số sản phẩm tiêu thụ tốt, ngày càng nâng cao chất lượng, chiếm 49,9% giá trị sảnxuất công nghiệp của tỉnh.
Các doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh hoạt động ổn định và có bước phát triển, đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động, thực hiện tốt nghĩa vụ thuế với Nhà nước. Nhiều doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư mở rộng sản xuất, thường xuyên phát động phong trào thi đua lao động sáng tạo, áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, mở mang ngành nghề kinh doanh, từng bước thích nghi với cơ chế thị trường nên hiệu quả cao hơn.
Đọc thêm tại : http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/thuc-trang-nganh-nong-lam-ngu-nghiep.html
Thứ Ba, 23 tháng 6, 2015
Kinh tế trang trại góp phần vào việc thu hút lao động, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho một bộ phận nông dân. Hàng năm các trang trại đã thu hút hàng ngàn lao động. Sự phát triển của kinh tế trang trại góp phần rất lớn vào việc phủ xanh đất trống, đồi núi trọc, bảo vệ môi trường sinh thái, biến các vùng đất chết – hoang hoá trở thành vùng đất trù phú mang lại nhiều lợi ích. Đó là hướng đi đúng và hiệu quả trong chiến lược khai thác vùng gò, đồi, ven biển của tỉnh.
Các trang trại ra đời là một kênh quan trọng sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư cũng như vốn vay để sản xuất nông, lâm, thuỷ sản thúc đẩy ngành nông nghiệp của tỉnh ngày càng phát triển toàn diện. Nông nghiệp đã có bước đi vững chắc, tạo ra cơ cấu nông sản hàng hoá tương đối đa dạng, một số sản phẩm tăng nhanh và có quy mô đáng kể như: cao su, cà phê, hồ tiêu, lạc, đậu xanh, rau thực phẩm, sản phẩm chăn nuôi.
Quá trình tập trung đầu tư cho sản xuất nông nghiệp đã hình thành sản xuất chuyên canh, tập trung, tạo điều kiện phát triển nền sản xuất hàng hoá với hiệu quả kinh tế ngày càng cao. “Trong điều kiện thiên tai hên tiếp xảy ra, nhất là hạn hán kéo dài năm 1998 và lũ lụt lịch sử cuổỉ năm 1999 gây hậu quả nặng nề, nhưng với sự nỗ lực khắc phục của Đảng bộ và nhân dân, kinh tế nông nghiệp vẫn đạt được những thành tựu quan trọng. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp bước đầu chuyển dịch theohướng tích cực. Thành tựu đó phản ánh hướng phát triển nông nghiệp những năm qua là đúng đắn và có hiệu quả”.
Tuy Đảng bộ tỉnh đã tập trung sức chỉ đạo phát triển nông nghiệp toàn diện nhưng ngành nông nghiệp Quảng Trị vẫn còn mang tính độc canh, nhịp độ tăng trưởng thấp và thiếu ổn định, quy mô sản xuất nhở, các sản phẩm hàng hoá chưa nhiều. Trình độ thâm canh trong nông nghiệp chưa đồng đều. Kinh tế gò đồi, miền núi và vùng biển phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Các sản phẩm nông – lâm nghiệp chưa có thị trường tiêu thụ ổn định, ảnh hưởng đến việc đầu tư phát triển. Công nghệ chế biến lâm sản, công nghệ sau thu hoạch lạc hậu về quy mô và trình độ kỹ thuật chế biến.
Việc đầu tư để hình thành các vùng chuyên canh cây lương thực, thực phẩm, cây công nghiệp thiêu tập trung và đồng bộ. Chăn nuôi còn để một số dịch bệnh kéo dài, giải quyết chưa dứt điểm. Năng suất khai thác thuỷ sản thấp (250 kg/cv/năm). Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản không ổn định và tăng chậm. Trang bị lưới nghề thiếu đồng bộ, trình độ kỹ thuật yếu, nuôi thuỷ sản chưa phát huy được thế mạnh và tiềm năng. Vốnđầu tư chương trình đánh bắt xa bờ thu hồi còn khó khăn. Công tác quản lý, bảo vệ rừng còn lỏng lẻo. Nạn cháy rừng và khai thác trái phép vẫn chưa ngăn chặn được. Thực hiện giao đất, khoán rừng tiên hành chậm.
Đọc thêm tại:
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/04/thanh-tuu-trong-y-te-va-giao-duc-quang.html
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/thuc-hien-cai-thien-nhu-cau-cuoc-song-o.html
Vấn đề nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn có tiến bộ. Được sự hỗ trợ về tiền vốn của Nhà nước, vật tư, thiết bị của tổ chức quốc tế và đóng góp của nhân dân; nhiều công trình về nước sạch và vệ sinh môi trường được xây dựng. Đã xây mới 3.440 giếng khoan tay, 11 công trình nước tự chảy; đào mới 319 giếng nước, xây dựng 824 bể lọc nước với tổng số tiền đầu tư là 7.500 triệu đồng, cung cấp nước sạch cho 13.000 người.
Một bộ phận rất quan trọng trong nông nghiệp tỉnh Quảng Trị là kinh tế trang trại. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII xác định: “Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tốiđa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá; nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh”.
Thực hiện chủ trương đó, với việc Nhà nước ban hành các chính sách khuyến khích phát triển sản xuất trong nông, lâm nghiệp, nông dân được giao đất lâu dài, đã phấn khởi, mạnh dạn nhận đất, đầu tư vào sản xuất, hình thành các trang trại trên nhiều địa bàn. Mô hình kinh tế trang trại nông, lâm, thuỷ sản có xu hướng tàng dần. Tuy hình thức, quy mô, tính chất sản xuất có khác nhau nhưng đã tạo nên mô hình kinh tế nông nghiệp hàng hoá mới có sức thuyết phục cả về kinh tế và xã hội trong chương trình khai thác đất trống, đồi núi trọc và khai thác bãi bồi, mặt nước hoang hoá ven biển của tỉnh. Đến năm 2000, toàn tỉnh có khoảng 1.002 trang trại, quy mô từ 2 ha đến trên 10 ha.
Mặc dù phát triển một cách tự phát nhưng phần lớn các hộ gia đình làm kinh tế trang trại đều biết hạch toán kinh tế và sản xuất kinh doanh có lãi. 15 trang trại nông, lâm nghiệp ở Triệu Phong doanh thu năm 1999 là 361 triệu đồng, số lãi thực tế là 181 triệu đồng (50,1%); 4 trang trại nuôi trồng thuỷ sản doanh thu năm 1999 là 1 tỷ đồng, lãi 530 triệu đồng (53%)v.v… Nhờ làm kinh tế trang trại mà đời sống của nhiều hộ gia đình khá giả hơn, xây dựng nhà kiên cố, mua sắm các tiện nghi đắt tiền phục vụ sinh hoạt và có điều kiện đầu tư sản xuất.
Đọc thêm tại :http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/thanh-tuu-trong-lam-nghiep-ngu-nghiep.html
Trong 5 năm, công tác trồng rừng trên địa bàn toàn tỉnh được chú trọng. Bằng nhiều nguồn vốn ở trong nước và các nguồn vốn viện trợ của các nước, các tổ chức quốc tế, diện tích trồng rừng hàng năm đạt từ 4.000- 5.000 ha. Đã trồng 24.300 ha rừng tập trung và 16 triệu cây phân tán, đưa độ che phủ rừng từ 23% lên 30%; góp phần tích cực trong việc phòng hộ, cải thiện và bảo vệ môi trường sinh thái, tạo điều kiện hạn chế thiên tai, thúc đẩy kinh tế phát triển. Hình thành các vùng nguyên liệu tập trung như gỗ giấy,sợi, nhựa thông… tạo tiền đê thuận lợi cho việc tố chức khai thác xây dựng các cơ sở chế biến gỗ, nhựa ổn định lâu dài.
Chất lượng rừng trồng được chú ý và ngày càng đa dạng các loại cây trồng. Tuy đầu tư cho trồng rừng chưa đáp ứng được nhu cầu nhưng đã huy động được đông đảo các tầng lổp nhân dân tham gia. Nhiều hộ gia đình, tập thể đã hăng hái nhận đất, nhận rừng để trồng cây, trồng rừng, góp phần quan trọng trong việc phân bổ lại dân cư và sự nghiệp xoá đói giảm nghèo. Thông qua các chương trình trồng rừng đã giải quyết được phần lớn nhu cầu củi đun và gỗ xây dựng cơ bản trong nhân dân.
Chăn nuôi ổn định và có bước phát triển. Đến năm 2000, tổng đàn trâu, bò có 98.044 con, đàn lợn có 185.574 con và đã “nạc hoá” 75% tổng đàn… Các loại gia cầm cũng tăng đáng kể. Chất lượng đàn gia súc, gia cầm được cải thiện một bước. Các loại giống vật nuôi phong phú về chủng loại, năng suất tăng lên rõ rệt. Chương trình “nạc hoá” đàn lợn, “zêbu” hoá đàn bò tiếp tục phát huy hiệu quả. Chăn nuôi phát triển tạo điều kiện khai thác hiệu quả vùng gò đồi, mặt nước vùng trũng, khai thác tiềm năng lực lượng lao động trong dân tạo ra một khối lượng sản phẩm có chất lượng phục vụ cho tiêu dùng xã hội, góp phần nâng cao đời sống.
Thuỷ sản có tiến bộ. Chương trình khai thác hải sản xa bò được đẩy mạnh, tăng nhanh năng lực đánh bắt hải sản. Trong 5 năm, công suất đã tăng từ 35.700CV lên 41.800CV. sản lượng hải sản năm 2000 đạt 12.360 tấn (năm 1996 là 7.800 tấn). Diện tích nuôi thuỷ sản đạt 944 ha, tổng kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đạt bình quân hàng năm 3,5 triệu USD.
Cùng với sự phát triển toàn diện của nông nghiệp, sự chuyển động của công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn ngày càng đa dạng. Nhiều cơ sở chế biến nông, lâm sản loại nhở ra đời; một số làng nghề truyền thống được phục hồi góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Đọc thêm tại : http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/thanh-tuu-ve-nong-nghiep-5-nam-au-oi-moi.html
5 năm, trong bối cảnh tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp, đất nước chịu tác động mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực; Quảng Trị bị ảnh hưởng nặng nề của thiên tai, nhưng Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh vẫn nỗ lực phấn đấu giành được nhiều thành tựu quan trọng.
Tổng sản phẩm nội tỉnh (GDP) bình quân 5 năm tăng 8,5%, mặc dù không đạt kế hoạch đề ra (10-12%), nhưng đây là một cố gắng lớn của tỉnh trong điều kiện nền kinh tế và đời sống của nhân dân còn gặp nhiều khó khăn. Một số chỉ tiêu quan trọng do Đại hội XII đề ra đã được hoàn thành. Tiềm lực kinh tế nhà nước của tỉnh và của nhân dân được tăng cường đáng kể.
Xác định nông nghiệp là ngành kinh tế có vai trò quan trọng trong ổn định và phát triển đời sống nhân dân; Tỉnh uỷ đã chỉ đạo các cấp uỷ và chính quyền tập trung mọi nguồn lực đầu tư để đẩy mạnh phát triển nông nghiệp toàn diện.
Mặc dù gặp những đợt thiên tai lớn (đại hạn năm 1998, lũ lụt năm 1999), nhưng do triển khai đồng bộ các biện pháp như thuỷ lợi; chuyển dịch cơ cấu cây trồng, chú trọng thâm canh; làm tốt công tác bảo vệ thực vật; chuyển đổi mạnh cơ cấu giống; đẩy mạnh công tác khuyến nông, khuyến lâm với nhiều hình thức đa dạng, phong phú; đồng thời có các chủ trương hỗ trợ cho nông dân về vật tư, tiền vốn, giống mới nên diện tích các loại cây trồng và sản lượng đều tăng.
Sản xuất lương thực chiếm vai trò chủ đạo trong sản xuất nông nghiệp và chiếm tỷ trọng chủ yếu trong cơ cấu diện tích gieo trồng hàng năm (67-82%). Nhịp độ tăng trưởng về diện tích cây lương thực trong 5 năm là 0,35%. Tốc độ tăng trưởng bình quân Ví; diện tích lúa thời kỳ 1996-2000 là 1,15%. Tóc độ tăng binh quân vềsản lượng lương thực là 13,6%. Trong đó, năng suất lúa từ 31,5 tạ/ha năm 1995 lên 41,6 tạ/ha năm 2000. Sản lượng lương thực vượt chỉ tiêu của Đại hội XII đề ra (21,7 vạn tấn/17-18 vạn tấn). Bình quân lương thực đầu người từ 287 kg lên 369,5 kg/năm.
Cây thực phẩm tương đối ổn định. Cây công nghiệp ngắn ngày có chiều hướng tăng nhanh, nhất là cây lạc. Các loại cây này giữ vai trò tích cực trong việc gia tăng khối lượng sản phấm hàng hoá nông sản, tăng thu nhập, trực tiếp giải quyết khó khăn tại chỗ cho nông dân.
Thực hiện Nghị quyết Đảng bộ tỉnh lần thứ XII về phát triển cây công nghiệp và kinh tế hộ gia đình, uỷ ban nhân dán tỉnh đã có chủ trương bù lãi suất vay ngân hàng cho những hộ nông dán vay tiền trồng cây công nghiệp nên diện tích, năng suất, sản lượng tăng nhanh; hình thành nhiều vùng tập trung chuyên canh. Cây cao su từ 4.900 ha lên 9.815 ha, cà phê từ 1.380 ha lên 3.400 ha, hồ tiêu từ 769 ha lên 1.494 ha.
Đọc thêm tại : http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/thuan-loi-va-kho-khan-thuc-hien-nhiem_23.html
Từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996, diễn ra sự kiện chính trị trọng đại của đất nước trong thập niên cuối của thế kỷ XX: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp.
Bước vào thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội giai đoạn 1996- 2000, tỉnh Quảng Trị có nhiều thuận lợi rất cơ bản:
Các công trình kinh tế – xã hội đầu tư xây dựng trong những năm trước lần lượt đưa vào sử dụng đã phát huy hiệu quả nhiều mặt, tạo thêm nguồn lực mới thúc đẩy sự phát triển nhanh hơn kinh tế-xã hội của địa phương.
Đời sống chính trị xã hội ổn định, truyền thông đoàn kết của Đảng bộ và nhân dần được phát huy, cùng với những kinh nghiệm được tích luỹ trong lãnh đạo và điều hành, cũng như hướng đi ngày càng rõ hơn, càng củng cố thêm niềm tin và quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, nhất là lĩnhvực kinh tế.
Cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng hoàn thiện và đi vào cuộc sống, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, là điểu kiện thuận lợi để thực hiện tốt nhiệm vụ và mục tiêu 5 năm (1996-2000).
Tuy nhiên, Quảng Trị cũng đứng trước những khó khăn, thách thức:
Thách thức lớn nhất vẫn là nguy cơ tụt hậu xa hơn so với sự phát triển của cả nước. Hậu quả của chiến tranh còn nặng nề, điểm xuất phát quá thấp, nên kinh tế mất cân đối lớn, lực lượng sản xuất phát triển chậm, đại bộ phận nhân dân sản xuất thuần nông, ngành nghề nông thôn chậm phát triển, lao động thiếu việc làm còn nhiều, đời sống một bộ phận dân cư ở những vùng điều kiện sản xuất khó khăn và ở miền núi chưa được bảo đảm. Điểu kiện tự nhiên, thời tiết khắc nghiệt luôn tạo ra những khó khán, bất trắc.
Cơ sở hạ tầng thấp kém và thiếu thốn, đô thị mới hình thành, công nghiệp còn nhở bé, tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm và phân tán, chưa tạo ra được các mũi nhọn kinh tế có khả nàng đóng góp nguồn thu lớn và ổn định ngân sách.
Mặt trái của cơ chế thị trường, những tiêu cực xã hội chưa được đẩy lùi.Một số tổ chức bộ máy và cán bộ chưa được kiện toàn và củng cố. Nhiều cán bộ còn nghèo tri thức khoa học và năng lực tổ chức thực tiễn. Trong nhiều ngành nghề chuyên môn còn thiếu cán bộ đầu đàn, chuyên gia và công nhân giỏi.
Đọc thêm tại : http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/thuan-loi-va-kho-khan-thuc-hien-nhiem.html
Thứ Hai, 22 tháng 6, 2015
Từ ngày 28-6 đến ngày 1-7-1996, diễn ra sự kiện chính trị trọng đại của đất nước trong thập niên cuốicủa thế kỷ XX: Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đại hội đề ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp.
Bước vào thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội giai đoạn 1996- 2000, tỉnh Quảng Trị có nhiều thuận lợi rất cơ bản:
Các công trình kinh tế – xã hội đầu tư xây dựng trong những năm trước lần lượt đưa vào sử dụng đã phát huy hiệu quả nhiều mặt, tạo thêm nguồn lực mới thúc đẩy sự phát triển nhanh hơn kinh tế-xã hội của địa phương.
Đời sống chính trị xã hội ổn định, truyền thông đoàn kết của Đảng bộ và nhân dần được phát huy, cùng với những kinh nghiệm được tích luỹ trong lãnh đạo và điều hành, cũng như hướng đi ngày càng rõ hơn, càng củng cố thêm niềm tin và quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, nhất là lĩnh vực kinh tế.
Cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước ngày càng hoàn thiện và đi vào cuộc sống, là động lực mạnh mẽ thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển, là điểu kiện thuận lợi để thực hiện tốt nhiệm vụ và mục tiêu 5 năm (1996-2000).
Tuy nhiên, Quảng Trị cũng đứng trước những khó khăn, thách thức:
Thách thức lớn nhất vẫn là nguy cơ tụt hậu xa hơn so với sự phát triển của cả nước. Hậu quả của chiến tranh còn nặng nề, điểm xuất phát quá thấp, nên kinh tế mất cân đối lớn, lực lượng sản xuất phát triển chậm, đại bộ phận nhân dân sản xuất thuần nông, ngành nghề nông thôn chậm phát triển, lao động thiếu việc làm còn nhiều, đời sống một bộ phận dân cư ở những vùng điều kiện sản xuất khó khăn và ở miền núi chưa được bảo đảm. Điểu kiện tự nhiên, thời tiết khắc nghiệt luôn tạo ra những khó khán, bất trắc.
Cơ sở hạ tầng thấp kém và thiếu thốn, đô thị mới hình thành, công nghiệp còn nhở bé, tiểu thủ công nghiệp phát triển chậm và phân tán, chưa tạo ra được các mũi nhọn kinh tế có khả nàng đóng góp nguồn thu lớn và ổn định ngân sách.
Mặt trái của cơ chế thị trường, những tiêu cực xã hội chưa được đẩy lùi. Một số tổ chức bộ máy và cán bộ chưa được kiện toàn và củng cố. Nhiều cán bộ còn nghèo tri thức khoa học và năng lực tổ chức thực tiễn. Trong nhiều ngành nghê’ chuyên môn còn thiếu cán bộ đầu đàn, chuyên gia và công nhân giỏi.
5 năm, trong bối cảnh tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp, đất nước chịu tác động mạnh của cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ khu vực; Quảng Trị bị ảnh hưởng nặng nể của thiên tai, nhưng Đảng bộ và nhân dân trong tỉnh vẫn nỗ lực phấn đấu giành được nhiều thành tựu quan trọng.
Đọc thêm tại:
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/04/thanh-tuu-trong-y-te-va-giao-duc-quang.html
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/muc-tieu-cua-ai-hoi-ai-bieu-ang-bo-tinh.html
- Thương mại – dịch vụ du lịch và tài chính ngân hàng:
-Phát triển các Trung tâm thương mại của tỉnh và khu vực. Chấn chỉnh lại thương nghiệp quốc doanh đủ mạnh để chi phối thị trường nhất là các mặt hàng thiết yếu và mặt hàng chính sách miền núi.
- Cùng cố và phát triển ngành du lịch, nhất là khai thác tuyến du lịch quốc tế qua Đường 9.
- Khai thác triệt để và có giải pháp bồi dưỡng nguồn thu, phấn đấu đến năm 2000 cơ bản cân đối thu chi ngần sách tại địa phương, dành 25-30% ngân sách cho tích luỹ xây dựng.
- Phát huy năng lực hoạt động của các ngân hàng, chú trọng hoạt động ngân hàng người nghèo và các quỹ tín dụng nhân dân, không để nông dân và người nghèo bị bóc lột chịu vay nặng lãi.
- Chăm lo giải quyết tốt các vấn đề xã hội: Nhất là giải quyết việc làm, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, ổn định dân số, nâng cao chất lượng giáo dục và dạy nghề, đẩy mạnh hoạt động khoa học công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống, phát triển các loại hình văn hoá thông tin thể thao, đấu tranh làm lành mạnh đời sống văn hoá.
- Tăng cường nhiệm vụ quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.
- Xây dựng Đảng bộ vững mạnh về mọi mặt, phát huy sức mạnh của hệ thông chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp đổi mối. Đại hội nhấn mạnh: “Từ vị trí lịch sử của thời kỳ chuyển tiếp nhiệm vụ kinh tế xã hội 5 năm 1996-2000, các cấp uỷ đảng, cán bộ, đảng viên cần nắm vững các quan điểm, chủ trương của Đảng, đặc biệt cần thấu suốt tư tưởng: Đặt mục tiêu chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, quyết tâm vượt qua thách thức, đẩy lùi nghèo đói là nhiệm vụ trọng tâm làm cơ sở chỉ đạo xây dựng và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị. Coi đổi mối tổ chức và công tác cán bộ là yếu tố có tính quyết định đến tiến trình đổi mối.”
“Hơn lúc nào hết, phải ra sức tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ, khai thác triệt để các nguồn lực vật chất và tinh thần, đẩy nhanh nhịp độ phát triển, thực hiện tốt nhiệm vụ và mục tiêu Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII và Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XII đề ra, tạo thêm thế và lực để bước vào thời kỳ mói- thồi kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng quê hương Quảng Trị ngày một phồn vinh”.
Đọc thêm tại : http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/muc-tieu-ai-hoi-ai-bieu-ang-bo-tinh.html
- Phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp:
Đẩy mạnh công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp theo hướng hiện đại hoá, có trọng điểm, khai thác thế mạnh mũi nhọn vật liệu xây dựng, chế biên nông, lâm, thuỷ sản và mở rộng công nghiệp hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.
- Công nghiệp vật liệu xây dựng: Lập dự án xây dựng thêm một nhà máy xi măng 1,2-1,4 triệu tấn; phát huy công suất nhà máy xi măng 8,2 vạn tấn, gạch 20 triệu viên, nâng cao năng lực khai thác đá Tân Lâm và đầu tư xưởng khai thác, chế biến đá granít xuất khẩu.
- Công nghiệp khai thác và chế biên nông lâm thuỷ sản:
+ Trước mắt, khai thác có hiệu quả các cơ sở chế biến đông lạnh thuỷ sản và chế biến gỗ, lâm sản, lương thực, ươm tơ hiện có. Mở các cơ sở chế biến nông sản trong các vùng kinh tế.
+ Từng bước đầu tư để xây dựng các cơ sở chê biến thức ăn gia súc, cà phê, cao su, nhựa thông, mía đường với quy mô hợp lý.
+ Đẩy mạnh và nâng cao công nghệ khai thác titan, nước khoáng, than bùn và phát triển các loại hình sản xuất cơ khí, sửa chữa và đóng tàu thuyền…
- Khuyến khích phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng như bia, may mặc, bánh kẹo, công nghiệp gia dụng khác, lắp ráp điện tử, in ấn văn phòng phẩm.
- Tổ chức và chấn chỉnh lại các xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, đầu tư hiện đại hoá để phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp mũi nhọn của tỉnh, đồng thời khuyến khích các thành phần kinh tế khác, phát triển công nghiệp chế biến và công nghiệp hàng tiêu dùng, ngành nghề tiểu thủ công nghiệp ở nông thôn và thành thị để thu hút thêm lao động xã hội và nâng cao mức sống nhân dân
2.Xây dựng kết cấu hạ tầng, tập trung vào các công trình quan trọng sau:
- Cải tạo mạng lưới điện, chương trình điện khí hoá toàn tỉnh, xây dựng Thủy điện Rào Quán.
- Nâng cấp và mở rộng tuyến đường quốc gia, hệ thống tỉnh lộ, chú trọng đầu tư xây dựng giao thông nông thôn. Hoàn thành và đưa vào sử dụng cảng cửa Việt giai đoạn I. Phát triển hệ thống bưu chính viễn thông.
-Tiếp tục xây dựng các hồ đập thuỷ lợi, để đến năm 2000 đưa diện tích tưới tiêu chủ động lên trên 75% diện tích lúa nước và phục vụ tưới cây công nghiệp và cây thực phẩm.
-Triển khai xây dựng dự án nước ngầm Gio Linh đưa vào Đông Hà và một số công trình cấp nước ở các thị trấn.
-Xây dựng hệ thống thoát nước, đèn đường và đường nội thị, trước hết là thị xã tỉnh lỵ.
- Nâng cấp và xây dựng các cơ sở hạ tầng phúc lợi xã hội như bệnh viện, trường học, phục chế lại các di tích văn hoá và lịch sử.
Đọc thêm tại : http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/ai-hoi-ai-bieu-ang-bo-tinh-quang-tri.html
Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XII tiến hành từ ngày 7 đến 9-5-1996, tại hội trường uỷ ban nhân dân tỉnh (thị xã Đông Hà) với 269 đại biểu, đại diện cho hơn 16 ngàn đảng viên của 14 đảng bộ trực thuộc trong toàn Đảng bộ.
Đại hội có nhiệm vụ quan trọng là thông qua báo cáo tổng hợp ý kiên tham gia các Dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương khoá VII trình Đại hội VIII; kiểm điểm tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tĩnh lần thứ XI, đề ra mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu thời kỳ 1996-2000; bầu Ban Chấp hành khoá XII và đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII
Sau khi phân tích, đánh giá những thành tựu đạt được và những khuyết điểm, yếu kém của tỉnh trong hơn 5 năm qua, Đại hội nêu rõ phương hướng và mục tiêu, nhiệm vụ của nhiệm kỳ 1996-2000.
Mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể:
1. Tiếp tục đổi mổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cải biến cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá:
- Về lương thực: ổn định diện tích lúa 40-42 nghìn ha, tăng diện tích màu theo hướng tập trung đầu tư thâm canh cao, chú ý áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất. Bình quân sản lượng lương thực 14-15 vạn tấn/năm, năm cao nhất 17-18 vạn/tấn.
- Hình thành các vùng cây chuyên canh công nghiệp ngắn, dài ngày, cây thực phẩm và cây ăn quả hàng hoá, thực hiện cải tạo vườn tạp lấy hiệu quả kinh tế/ha làm tiêu chuẩn để lựa chọn cơ cấu cây trồng hợp lý. Phấn đấu trồng mới 4.000-5.000 ha cao su, 300 ha hồ tiêu, 2.000-3.000 ha cà phê, mở rộng diện tích trồng dâu từ: 1.000-1.200 ha, 1.000-1.500 ha mía tập trung để tạo nguồn nguyên liệu cho công nghiệp chếbiến.
-Đưa chăn nuôi phát triển thành ngành sản xuất chính, giá trị chăn nuôi chiếm tỷ trọng trong giá trị nông nghiệp 35-40%. Chỉ đạovà nâng cấp chất lượng đàn gia súc, gia cầm, nhất là đàn lợn và bò.
- Trong 5 năm (1996-2000) trồng mới 30.000 ha rừng tập trung 15 triệu cây phân tán, đưa tỷ lệ thảm thực vật lên 35% (năm 2000). Tiếp tục giao đất và giao khoán rừng cho các hộ gia đình lâm trường, hộ nông dân, hợp tác xã quản lý, bảo vệ chăm sóc và trồng rừng, gắn trồng rừng với định canh định cư.
- Tăng năng lực đánh bắt hải sản xa bờ, năm 2000 sản lượng khai thác đạt 10.000-12.000 tấn. Mở rộng nuôi trồng thuỷ sản ở những vùng có điều kiện. Tiến hành xây dựng các dự án làng cá, cơ sở hậu cần ở các cửa lạch và đảo cồn cở. Phát triển mạnh chế biến thuỷ sản cho xuất khẩu và nội địa, phấn đấu đạt giá trị xuất khẩu 7 triệu USD (năm 2000).
- Phát triển nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến theo quy mô thích hợp. Mở rộng ngành nghề trong nông nghiệp và nông thôn.
- Các nông, lâm trường, các xí nghiệp chế biên nông lâm thuỷ sản quốc doanh tiếp tục đổi mới quản lý kinh doanh, thực hiện vai trò trung tâm dịch vụ kỹ thuật, vốn và tiêu thụ sản phẩm, là chỗ dựa vững chắc cho các hộ nông dân.
- Tiếp tục đổi mới mô hình hợp tác và hình thức quản lý hợp tác xã theo nguyên tắc tự nguyện, cổ phần, cùng có lợi, lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế tự chủ.
- Nhân dân và Nhà nước cùng làm để xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật cho sản xuất và phúc lợi xã hội, kiên thiết nông thôn mối, phát triển toàn diện kinh tế, văn hoá và xã hội.
Tuy vậy, hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể và các tổ chức xã hội chưa đồng đều. Phương pháp công tác, phương thức vận động kém hấp dẫn; còn lúng túng trong việc củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở ở các đơn vị kinh tế ngoài quốc doanh.
Một số đoàn thể chưa làm được vai trò nòng cốt trong việc vận động nhân dần thực hiện tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Sự phối hợp giữa Mặt trận và các đoàn thể với chính quyền các cấp có lúc thiếu chặt chẽ, chưa thật nề nếp nên đã hạn chế việc phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị.
Công tác xây dựng bộ máy chính quyền, nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước ở địa phương được coi trọng. Hội đồng nhân dân có tiến bộ trong nội dung và phương thức hoạt động, từng bước phát huy vai trò cơ quan quyền lực ở địa phương; chức năng kiểm tra, giám sát được tăng cường. Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật cho toàn dân luôn được chú ý. Chất lượng các kỳ họp được nâng lên. Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đã phát huy trách nhiệm, đóng góp tích cực vào việc hoạch định các nhiệm vụ kinh tế – xã hội của địa phương và giám sát hoạt động của chính quyền.
Hoạt động các Ban của Hội đồng nhân dân ngày càng có nhiều tiến bộ. Tiến hành khảo sát tình hình ở nhiều địa phương, đã có những kiến nghị, biện pháp kịp thời nhằm thực hiện tốt Nghị quyết của Hội đồng nhân dân và thi hành pháp luật, chính sách của Nhà nước ở địa phương. Việc tổ chức đại biểu tiếp xúc với cử tri lấy ý kiến tham gia sửa đổi Hiên pháp 1980, các dự luật, các chủ trương công tác của các cấp chính quyền; chủ động giải quyết kịp thời các vấn đề tranh chấp trong nội bộ nhân dân, cứu trợ khi thiếu đói… từng bước đổi mối và có hiệu quả. Môi quan hệ giữa Đại biểu Hội đồng nhân dân với cử tri ngày càng gắn bó. Nguyện vọng và những ý kiến của cử tri đều được xem xét, thảo luận tại các kỳ họp Hội đồng nhân dân các cấp.
Hoạt động của các cấp chính quyền đã có bước đổi mới về nội dung, phương thức chỉ đạo, quản lý và điều hành. Trên cơ sở tăng cường pháp chế, hiệu lực quản lý được nâng lên, kỷ cương, pháp luật bảo đảm, dân chủ được phát huy. Nhiệm vụ kinh tế – xã hội từng bước đi vào nề nếp, kịp thời và sát thực hơn. Phong cách chỉ đạo, lề lối làm việc được cải tiến. Tệ quan liêu, mệnh lệnh hành chính được khắc phục một bước. Chính quyền các cấp đã có những tiến bộ rõ rệt trong công tác quần chúng, nêu cao ý thức trách nhiệm trong việc phát triển kinh tế, tổ chức đời sống của nhân dân, kịp thời xử lý những đơn, thư tố cáo, khiếu nại và những vấn đề vướng mắc trong nội bộ nhân dân.
Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2015
Hội Liên hiệp Phụ nữ tiếp tục vận động phát triển phong trào thực hiện các chương trình của Hội đề ra: nâng cao kiến thức, giúp nhau làm kinh tế gia đình, chăm sóc sức khoẻ phụ nữ, trẻ em.
Các cấp hội thường xuyên tuyên truyền và tổ chức cho cán bộ, hội viên học tập đường lối chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, động viên phụ nữ thực hiện nhiệm vụ xây dựng địa phương.
Việc thực hiện Nghị định 163 của Hội đồng Bộ trưởng về phụ nữ tham gia quản lý Nhà nước có chuyển biến tốt. Thông qua các đợt tiếp xúc có định kỳ và đột xuất, các cấp hội đã đề xuất kịp thời và đề nghị các cấp chính quyền giải quyết những vấn đề cấp bách đang đặt ra, bảo đảm đúng quyền lợi của phụ nữ và trẻ em. Việc tham gia ý kiến của Hội về những vấn đề có hên quan đến quyền lợi phụ nữ và trẻ em được chính quyền tôn trọng. Hội tích cực vận động hội viên tham gia bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp, tuyên truyền giải thích cho hội viên luật bầu cử, chọn và giới thiệu người có đủ tiêu chuẩn để bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân và vận động 100% cử tri đi bầu. Hội đã tích cực tuyên truyền, giáo dục chị em vùng sâu, vùng xa hiểu biết về Luật Hôn nhân và gia đình; Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em, Luật Lao động; chỉ đạo các cấp làm tốt chính sách hậu phương quân đội, thăm và tặng quà các thương binh, gia đình liệt sĩ, bà mẹ Việt Nam anh hùng… Những hoạt động thường xuyên của Hội đã góp phần không nhở vào việc thực hiện chính sách của Đảng đôi với nhiệm vụ quốc phòng, an ninh.
Hội Cựu chiến binh mới thành lập đã đẩy mạnh phong trào xây dựng cơ sở Hội vững mạnh, hội viên Hội Cựu chiến binh gương mẫu và gia đình hội viên Hội Cựu chiến binh tiến bộ. Phong trào phát triển sâu rộng đều khắp các huyện, thị xã, xã, phường, thị trấn, đến năm 1995 qua tổng kết phong trào thi đua có 61 cơ sở Hội đạt loại khá, 5.046 hội viên gương mẫu và 2.977 gia đình hội viên đạt tiêu chuẩn giàu. Hội Cựu chiến binh tích cực tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, Mặt trận các đoàn thể và lực lượng dân quân ở cơ sở. Có khoảng 70% số xã, phường, thị trấn mà các chức vụ chủ chốt về công tác đảng, Chính quyền, Mặt trận, quân sự do hội viên Hội Cựu chiến binh đảm nhiệm. Hội đã mạnh dạn tổ chức gần 100 cấu lạc bộ cựu quân nhân để tập hợp thanh niên hoàn thành nghĩa vụ trở về. Hội vận động hội viên tham gia thực hiện xoá đói, giảm nghèo, cho hội viên vay vốn để phát triển sản xuất. Đời sống của gia đình nhiều hội viên được cải thiện.
Đọc thêm tại:
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/04/thanh-tuu-trong-y-te-va-giao-duc-quang.html
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/thuc-hien-cac-phong-trao-thu-hut-nhieu.html
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)



















