Thứ Sáu, 5 tháng 6, 2015

Quảng trị từng bước đi lên sau những năm đầu tái lập

         Để phù hợp với điều kiện quản lý và phát huy thế mạnh, truyền thông của các địa phương; sau khi tái lập tỉnh, Tỉnh uỷ đã sớm có chủ trương đề nghị Trung ương cho sắp xếp lại đơn vị hành chính cấp huyện, thị trên địa bàn. Ngày 16-9-1989, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 134/HĐBT về việc lập lại thị xã Quảng Trị.


Quảng Trị


        Ngày 23- 3-1990, Hội đồng Bộ trưởng ra Quyết định số 91/HĐBT chia huyện Bến Hải thành 2 huyện Vinh Lánh và Gio Lánh, huyện Triệu Hải thành 2 huyện Triệu Phong và Hải Lăng. Các đơn vị hành chính mới thành lập nhanh chóng sắp xếp bộ máy, bố trí biên chế, phát huy được trách nhiệm và tính chủ động bảo đảm sự chỉ đạo, lãnh đạo thông suốt. Điều chỉnh quy mô các huyện, thị là việc làm kịp thời, phù hợp tình hình đổi mới của quê hương, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của nhân dân.
         Sau một thời gian đi vào hoạt động, các chủ trương của Tỉnh uỷ phù hợp với tình hình thực tiễn, tâm tư, nguyện vọng, tình cảm của nhân dân, làm tăng thêm niềm phấn khởi, hồ hởi trong sản xuất, công tác, phát huy truyền thống đoàn kết, kiên cường, tập trung tâm lực và trí tuệ để xây dựng quê hương. Bộ máy cấp tỉnh ổn định và bước đầu hoạt động có hiệu quả. Vượt qua những thử thách ban đầu, Quảng Tri đã từng bước tạo được sự chuyển biến tích cực, giữ vững được ổn định chính trị, tạo ra chiều hướng phát triển về mọi mặt.
         Sản xuất nông nghiệp có tiến bộ đáng phấn khởi. Trong quá trình chỉ đạo, tỉnh vừa coi trọng vụ Đông Xuân, vừa coi trọng vụ Hè Thu và các biện pháp thâm canh; kết hợp thực hiện cơ chế quản lý mới nên sản xuất nông nghiệp có những bước chuyển biến tích cực trên nhiều mặt, khơi dậy tiềm năng trong nông thôn, phát huy quyền làm chủ thực sự của người lao động trong sản xuất kinh doanh, thúc đẩy nông nghiệp phát triển. Mặc dù bị ảnh hưởng bởi thiên tai nhưng sản lượng lương thực, đặc biệt là lúa phát triển khá. Sản lượng lương thực 5 năm (1986-1990) cao hơn 5 năm trước gần 5 vạn tấn; sản lượng lương thực bình quân hàng năm so với những năm thực hiện Khoán 100 tăng 10,9%, so với thời kỳ 1976- 1980 tăng 11,2%, riêng sản lượng thóc bình quân hàng năm so với thời kỳ Khoán 100 tăng 27,48%, so với những năm 1976-1980 tăng 47,7%.

         Một số hợp tác xã, tập đoàn sản xuất, hộ nông dân thâm canh lúa giỏi, đạt năng suất ổn định 40-50 tạ/ha/vụ. Vụ Đông Xuân năm 1990-1991 được mùa tương đối toàn diện. Vụ Hè Thu gieo cấy vượt diện tích và sớm hơn các năm trước. Các loại cây công nghiệp cây thực phẩm phát triển khá. Đã có trên 600 ha hồ tiêu, hàng trăm ha cà phê, trên 4.500 ha cao su, trong đó một số diện tích cho khai thác mủ, mở ra khả năng tăng thêm hàng hoá xuất khẩu và công nghiệp chế biến.



Đọc thêm tại:

Quảng Trị bước đầu giải quyết những khó khăn

       Để có chỗ làm việc cho cơ quan cấp tỉnh, Đảng bộ thị xã Đông Hà kịp thòi lãnh đạo các cơ quan, ban ngành kể cả doanh nghiệp thu hẹp nơi làm việc, nhường cho cơ quan cấp tỉnh chỗ làm việc thuận lợi nhất.
       Sinh hoạt của cán bộ công nhân viên từ Huế chuyển ra dựa vào sự giúp đỡ của nhân dân, cơ bản giải quyết khó khăn bước đầu.

Quảng Trị


       Để ổn định cuộc sống lâu dài cho cán bộ, tỉnh đề ra chủ trương cấp đất, cho vay tiền làm nhà. Kết quả, đến cuối năm 1990 gần 700 hộ đã được cấp đất và vay tiền. Đây là quyết đỉnh sáng suốt, đúng đắn, góp phần quan trọng giải quyết khó khăn trước mắt, được toàn thể cán bộ, công nhân viên đồng tình, hưởng ứng và yên tâm công tác.
        Nhằm nâng cao năng lực hoạt động của Hội đồng nhân dân, các cấp uỷ đảng đã tiến hành giới thiệu cho khôi chính quyền những cán bộ đủ tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn Hội đồng nhân dân các cấp tuy mới kiện toàn bộ máy nhưng có nhiều tiến bộ trong nội dung và phương thức hoạt động, đề cao vị trí của cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, từng bước phát huy hiệu lực trong việc quyết định, giám sát thực hiện các chủ trương chính sách do Đảng và chính quyền đề ra. Các kỳ họp của Hội đồng nhân dân được chuẩn bị tốt, phát huy tính dân chủ, quyết định những vấn đề quan trọng về phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo an ninh – quốc phòng ở địa phương.
       

        Ngày 19-11-1989, cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp tỉnh Quảng Trị khoá I (nhiệm kỳ 1989-1994) thành công, với 99,09% số cử tri trong toàn tỉnh đi bầu cử. Đã bầu được 60 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, 206 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện, thị và 3.370 Hội đồng nhân dân cấp xã, phường.
         Tại kỳ họp thứ nhất, Hội đồng nhân dân tỉnh đã bầu đồng chí Lê Văn Hoan giữ chức Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh; đồng chí Nguyễn Bường được bầu làm Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh.
         Ngày 17-2-1990, được sự đồng ý của Ban Bí thư Trung ương, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Trị tiến hành bầu Bí thư và Phó Bí thư. Đồng chí Nguyễn Đức Hoan được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Phan Chung được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh uỷ.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: ubnd quang tri, giáo dục quảng trị

Chủ trương của Quảng Trị sau những năm đầu tái lập

       Nắm bắt được những tâm tư, tình cảm của cán bộ, đảng viên và nhân dân trước những chuyển biến phức tạp của tình hình quốc tế, trong nước, ngày 22-7-1989, Tỉnh uỷ Quảng Trị tổ chức mít tinh chào mừng tái lập tỉnh để phát động phong trào cách mạng quần chúng, phát huy truyền thống đoàn kết, khắc phục khó khăn, ổn định tình hình, từng bước vươn lên giành thắng lợi mối, Tỉnh uỷ kêu gọi đồng bào các dân tộc, các tôn giáo, cán bộ, công nhân, viên chức, chiến sĩ các lực lượng vũ trang…phát huy mạnh mẽ chủ nghĩa yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, quyết tâm thực hiện sự nghiệp đổi mới toàn diện và sâu sắc trên những nguyên tắc cơ bản mà Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá VI) đã chỉ ra, cùng nhau đoàn kết nhất trí, nỗ lực vượt lên, xây dựng Quảng Trị thân yêu thành một tỉnh giàu mạnh, xứng đáng với lòng mong mỏi của Trung ương Đảng và Chính phủ, đáp ứng sự tin cậy của đồng bào và chiến sĩ cả nước. Cuộc mít tinh mừng Quảng Trị tái lập là ngày hội mở đầu cho giai đoạn phát triển mối của tỉnh.

Tỉnh uỷ Quảng Trị


        Trước khó khăn trong những ngày đầu tái lập, Quảng Trị luôn nhận được sự động viên của các cơ quan Trung ương. Nhiều đồng chí ủy viên Trung ương Đảng, lãnh đạo các Bộ, ngành Trung ương đã vào làm việc, giúp tháo gõ khó khăn, gợi mở nhiều vấn đề quan trọng. Các đồng chí lãnh đạo ở Trung ương đã khẳng định: Nghị quyết hội nghị lần thứ nhất cùng diễn văn mừng tái lập tỉnh đã thể hiện tinh thần kiên định của Đảng bộ Quảng Trị về chủ nghĩa xã hội, về những nguyên tắc của công cuộc đổi mới đúng với quan điểm chỉ đạo của Trung ương, phát huy truyền thống, tăng cường đoàn kết nội bộ, giữ gìn sự đoàn kết giữa 3 tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.


         Thực hiện Nghị quyết của Tỉnh uỷ, các sở, ban, ngành, Mặt trận và các tổ chức chính trị – xã hội đã khẩn trương sắp xếp tổ chức bộ máy theo hướng tinh gọn, phù hợp với một tỉnh vừa mới tái lập, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng và hiệu quả công tác. Tỉnh uỷ thành lập Ban Tổ chức, Ban Tuyên giáo, uỷ ban Kiểm tra và Văn phòng Tỉnh uỷ, các cơ quan đã sớm tập kết về địa điểm mới, nhanh chóng đi vào hoạt động. Thường vụ Tỉnh uỷ quyết định bố trí 67 cán bộ chủ chốt vào các cương vị chánh, phó giám đốc, trưởng, phó ban và hình thành bộ máy các ngành trực thuộc uỷ ban. Cán bộ mới được đề bạt phần đông còn trẻ, có năng lực, nhiệt tình trong công tác, thể hiện quyết tâm tháo gỡ những vướng mắc, cùng nhau xây dựng quê hương giàu đẹp.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: ubnd tinh quang tri, giao duc quang tri

Nhiệm vụ chủ yếu trước mắt những ngày sau tái lập

        Cán bộ từ tỉnh Bình Trị Thiên trở về xây dựng quê hương khá đông, trong lúc đó bộ máy tổ chức của tỉnh phải sắp xếp lại theo tinh thần đổi mới, giảm nhẹ biên chế, tăng chất lượng, nên số lượng cán bộ dôi thừa nhiều . Cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cũng như nơi ăn, chốn ở của cán bộ, công nhân viên chức thiếu thốn, chật chội.

quảng trị


        Trước yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới, Tỉnh uỷ chủ trương ổn định tổ chức, phân công lại các đồng chí trong Ban Chấp hành, kịp thời bố trí đội ngũ cán bộ, đề ra các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội nhằm bảo đảm thực hiện vai trò lãnh đạo của Đảng bộ trên tất cả các mặt công tác kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, lãnh đạo chính quyển, Mặt trận, các đoàn thể và công tác xây dựng Đảng.
         Ngày 28-6-1989, Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh họp ra Nghị quyết 01-NQ/TU về việc phân công các chức vụ chủ chốt trong cấp uỷ. Ban Thường vụ có 5 đồng chí. Đồng chí Nguyễn Đức Hoan giữ chức quyền Bí thư Tỉnh uỷ, đồng chí Nguyễn Bường giữ chức quyền Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh. Cùng ngày Tỉnh uỷ ra Nghị quyết số 02-NQ/TU về nhiệm vụ chủ yếu trước mắt trên các lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, tổ chức và tư tưởng.
        Về tư tưởng: Xác định bản lĩnh chính trị vững vàng, thực hiện phương châm khẩn trương, tích cực, vững chắc không để cho khuynh hướng bảo thủ hoặc nóng vội chi phối. Kịp thời phát huy những nhân tố tích cực, uốn nắn những lệch lạc, giải quyết những vấn đề mới nảy sinh lúc chia tỉnh, kiên quyết đấu tranh để tháo gỡ những khó khăn theo cơ chế mới, không chập chờn, dao động quay lại cơ chế cũ.
        Về tổ chức: Nhanh chóng sắp xếp và từng bước ổn định bộ máy Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể và các tổ chức sản xuất kinh doanh, sớm đưa các cơ quan vào hoạt động đồng bộ, có hiệu lực, để kịp thời chỉ đạo tổ chức thực hiện những nhiệm vụ trước mắt.
        Việc sắp xếp bộ máy phải gọn, nhẹ, theo tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực; tránh định kiến, hẹp hòi, cục bộ địa phương, cá nhân, cơ hội. Phải đổi mối công tác tổ chức và đổi mới công tác cán bộ, trẻ hoá đội ngũ cán bộ, bảo đảm yêu cầu lãnh đạo và chỉ đạo.
        Về nông nghiệp: Bảo đảm các điều kiện cho sản xuất, làm tốt vụ Hè Thu, tích cực chuẩn bị vụ Đông và vụ Đông Xuân 1989-1990. Phải thu đủ thuế nông nghiệp, thanh toán dứt điểm các khoản nợ khê đọng trong dân và các hợp tác xã.
         Về công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp: Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc, Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (khoá VI), tháo gỡ dần các khó khăn, ách tắc trong sản xuất kinh doanh, cả kinh tế quốc doanh và ngoài quốc doanh, thực hiện tốt các chỉ tiêu về sản xuất hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu.
          Về văn hoá, xã hội: Bám sát nhiệm vụ chính trị, hướng về cơ sở để đưa nhanh các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến tận nhân dân, phản ánh kịp thời ý kiến và những nhân tố tích cực thực hiện công cuộc đổi mới, nhằm tạo sự đoàn kết nhất trí, quyết tâm xây dựng Quảng Trị từng bước tiến lên.
         Về quốc phòng an ninh: Tiếp tục phát động và nâng cao phong
trào quần chúng bảo vệ an ninh và trật tự an toàn xã hội. Xây dựng phòng tuyến an ninh tuyến biển, tuyến núi, đặc biệt là dọc Đường 9 đảo Cồn Cỏ; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội chủ động trong mọi tình huống.
Đồng thời, hội nghị đã bàn, xây dựng để án về phương hướng nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội năm 1990 và 5 năm 1991-1995.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: ubnd tỉnh quảng trị, giáo dục quảng trị

Những ngày đầu tái lập của Quảng Trị

        Sau ngày tái lập, Quảng Trị có những thuận lợi cơ bản. Nghị quyết Đại hội lần thứ VI và các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khẳng định và cụ thể hoá đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo của Đảng. Các cơ chế, chính sách về kinh tế – xã hội đang dần được hoàn thiện. Tình hình chính trị ổn định.

Quảng Trị


        Vai trò các tổ chức Đảng, chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể đang được nâng lên. Đặc biệt, cán bộ, đảng viên và nhân dân Quảng Trị đoàn kết, cần cù, sáng tạo, phấn đấu vượt qua khó khăn, tạo thế và lực để phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo đời sống, giữ vững an ninh trật tự, xây dựng quê hương ngày càng giàu, mạnh.


         Quảng Trị có đất đai tự nhiên tương đối phong phú, đa dạng, có nguồn lao động dồi dào để phát triển nông nghiệp toàn diện, phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, sản xuất vật liệu xây dựng và các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, đường thuỷ thuận lợi; có Đường số 9 với cửa khẩu quốc tế Lao Bảo; có hệ thống di tích lịch sử cách mạng, văn hoá phong phú, đa dạng để phát triển du lịch. Một số cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất và đời sống được xây dựng trong thời kỳ Bình Trị Thiên đã phát huy hiệu quả. Đó là những tiền đề quan trọng để nhân dân Quảng Trị tiếp tục tiến hành công cuộc đổi mới.

         Bên cạnh những thuận lợi cơ bản, Quảng Trị còn phải đương đầu với những khó khăn lớn. Là địa bàn bị chiến tranh tàn phá, huỷ diệt nên hậu quả chiến tranh rất nặng nề; diện tích không rộng, dân cư phân bố không đều, trình độ dân trí thấp; tiềm lực kinh tế, nguồn lực tài chính hạn hẹp, kinh tế phát triển chậm và mất cân đối, đầu tư cho phát triển còn nhiều hạn chế, chưa có tích luỹ; bộ máy tổ chức và nhân sự chưa hoàn chỉnh.


        Đi lên từ xuất phát điểm rất thấp so với các tỉnh bạn, sau 13 năm xây dựng, Quảng Trị vẫn là một tỉnh thuần nông. Diện tích, năng suất và sản lượng nông, lâm nghiệp còn thấp và chưa ổn định. Công nghiệp rất nhỏ bé, công nghệ lạc hậu, máy móc cũ kỹ, quản lý yếu, nhiều cơ sở thua lỗ. Cơ sở hạ tầng thấp kém. Lợi thế về hấp dẫn đầu tư nước ngoài so với các tỉnh trong khu vực còn thua kém. Công tác quản lý, điểu hành của cán bộ doanh nghiệp và tay nghề của công nhân chưa đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế. Tập quán canh tác lạc hậu, đời sống nhân dân còn nhiều khó khăn, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ cách mạng. Hậu quả của một thời kỳ dài bao cấp, tâm lý ỷ lại vẫn đang sâu nặng trong nhận thức, phong cách của không ít cán bộ, đảng viên. Những tiêu cực trong kinh tế – xã hội phát sinh do tác động từ mặt trái của cơ chế quản lý mới có chiều hướng phát triển.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: tỉnh đoàn quảng trị, giao duc quang tri

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2015

Thành tựu trong y tế và giáo dục Quảng Trị

      Việc dạy và học thêm ở các trường phổ thông công lập được chỉ đạo và quản lý chặt chẽ theo quy định của Chính phủ. Bước đầu thực hiện chính sách thu hút và ưu đãi cho giáo viên giảng dạy ở các vùng khó, vùng núi và giáo viên giỏi ở các cấp, nhờ vậy mà chất lượng giáo dục đã có nhiều chuyển biên tích cực, số học sinh khá, giỏi ngày càng tăng.



        Nhiều học sinh của tỉnh đã đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi Quốc gia. Tuy vậy, chất lượng dạy và học, tỷ lệ lao động có học nghề trong xã hội còn thấp; cán bộ giỏi, công nhân có tay nghề còn ít. Các ngành học phát triển không đồng đều, giáo dục phổ thông phát triển mạnh nhưng giáo dục mầm non, dạy nghề còn ít, bỏ học nhiều. Các điều kiện đảm bảo cho sự nghiệp giáo dục đào tạo như cán bộ, giáo viên, cơ sở vật chất, thiết bị dạy và học còn thiếu. Khả năng thu nhận học sinh vào lớp thấp hơn so với nhu cầu vẫn còn tình trạng trường lớp tạm bợ.

      Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân, công tác phòng bệnh được coi trọng. Các chương trình y tế quốc gia như tiêm chủng mở rộng, chống suy dinh dưỡng, phòng chống sốt rét, phong, bướu cổ đạt kết quả khá. Công tác xây dựng, củng cố và phát triển mạng lưới y tế đến cơ sở có nhiều cố gắng. Tỷ lệ suy dinh dưỡng và người mắc bệnh giảm, các bệnh dịch được dập tắt kịp thời, sức khoẻ nhân dân được nâng lên. Công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em có bước chuyển biên. Các mục tiêu trong Chương trình hành động vì trẻ em được thực hiện có kết quả. 97,70% trẻ em trong độ tuổi được tiêm đủ 6 loại vắc xin phòng bệnh; 100% trẻ em trong độ tuổi được uống vitamin A.

       Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng được triển khai thí điểm ở 35 xã năm 1991 lên 52 xã năm 1995. Kết quả tại các xã thực hiện dự án, số lần khám thai tăng từ 56% lên 98,4%; tỷ lệ tiêm phòng uốn ván tăng từ 27% lên 95% (cho phụ nữ có thai) từ 18% lên 97% (cho phụ nữ từ 18 đến 35 tuổi); số trẻ em suy dinh dưỡng giảm từ 48,5% xuống còn 39,2% trong đó số trẻ suy dinh dưỡng nặng từ 19,5% xuống 8,3%, hơn 97% trẻ em suy dinh dưỡng được phục hồi. Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn thanh niên ở một số nơi còn có sáng kiến góp vốn cho mượn luân phiên, không lấy lãi để tổ chức sản xuất nhở, nhằm cải thiện bữa ăn hàng ngày cho trẻ. Với cách làm phù hợp, ít tôn kém này, Chương trình phòng chống suy dinh dưỡng được thực hiện khắp 136 xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh.

       Công tác dân số có chuyển biến rõ nét. Chương trình Quốc gia dân số – kế hoạch hoá gia đình được nhân dân đồng tình và phát triển rộng rãi, nhất là từ năm 1993-1995. Công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện chương trình được tiến hành khá tích cực, chặt chẽ nhờ đại bộ phận cán bộ và nhân dân đã nhận thức được hạn chế phát triển dân số cũng chính là mục tiêu để xoá đói, giảm nghèo nhằm phát triển kinh tế-xã hội. Số người chấp nhận các biện pháp kế hoạch hoá gia đình ngày càng nhiều, hạ tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 2,85% năm 1991 xuống 2,3% năm 1995, giảm tỷ suất sinh 0,8%o theo đúng mục tiêu đã đề ra; đã xuất hiện một số đơn vị, cá nhân điển hình trong việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình ở Hải Lăng, Vinh Linh.