Thứ Sáu, 19 tháng 6, 2015
Hoạt động của uỷ ban Kiểm tra các cấp có tiến bộ. Các cấp uỷ đảng đã gắn nội dung kiểm tra với mục tiêu, yêu cầu nội dung xây dựng đội ngũ đảng viên và cán bộ theo Nghị quyết Trung ương 3, Chỉ thị 15 của Bộ chính trị, Nghị định 114 của Thủ tướng Chính phủ, chú trọng kiểm tra đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng, qua đó kịp thời bổ sung, điều chỉnh, phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa những thiếu sót, khuyết điểm, góp phần thúc đẩy nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ xây dựng Đảng ở địa phương. Trong 5 năm (1991-1995), Uỷ ban Kiểm tra các cấp đã kiểm tra 4.796 đảng viên, qua kiểm tra, đã xử lý kỷ luật và đưa ra khởi Đảng 1.523 trường hợp, trong đó khai trừ và đưa ra khởi Đảng 528 người chiếm 3,2% tổng số đảng viên trong tỉnh, nhận và giải quyết 148 thư tố cáo, giải quyết thư tố cáo, xử lý kỷ luật 38 đảng viên. Các cấp uỷ đảng và uỷ ban Kiểm tra các cấp đã quán triệt quan điểm, đường lối chính sách và vận dụng vào đặc điểm, hoàn cảnh cụ thể của địa phương trong việc xem xét xử lý kỷ luật và kết luận sai phạm của chi bộ, đảng viên, đảm bảo công minh, chính xác, có tác dụng giáo dục chung trong Đảng bộ. Việc giải quyết chế độ chính sách cho cán bộ đảm bảo đúng quy định.
Quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội VII của Đảng và Nghị quyết 8B của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VI) về “Đổi mối công tác quần chúng của Đảng, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng và nhân dân”, các cấp uỷ đảng đã tăng cường chỉ đạo Mặt trận, các đoàn thể và chính quyền các cấp, đổi mới nội dung và hình thức hoạt động, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tổ chức học tập và tuyên truyền sâu rộng Nghị quyết Đại hội VII, các Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Quốc hội, pháp luật và các quyết định của Nhà nước, Nghị quyết Đại hội lần thứ XI Đảng bộ tỉnh nhằm không ngừng nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về thực hiện nhiệm vụ kinh tế, phát triển văn hoá, tăng cường quốc phòng – an ninh, đấu tranh chống âm mưu “diễn biến hoà bình” của kẻ thù, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân.
Thực hiện Nghị quyết 8B của Đảng, công tác dân vận được quan tâm và táng cường. Cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ được nhận thức đầy đủ hơn trong cán bộ, đảng viên và nhân dân. Các cấp uỷ đảng thường xuyên nắm tình hình tâm tư, nguyện vọng, những vướng mắc, những vấn đề nảy sinh, kịp thời có chủ trương, biện pháp xử lý, tổ chức tốt việc lấy ý kiến của quần chúng nhân dân tham gia trước khi quyết định các chủ trương công tác. Vì vậy, các chủ trương lớn của Đảng được sự đồng tình, ủng hộ của quần chúng. Nhiều cấp uỷ đảng đã tổ chức tốt các cuộc hội thảo, các cuộc tiếp dân để lắng nghe ý kiến, tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, suy nghĩ góp ý cho Đảng các chủ trương trong lãnh đạo phát triển kinh tế- xã hội, nhất là lĩnh vực xây dựng Đảng, kịp thời phê bình, kiểm điểm nhằm nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.
Đọc thêm tại:
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/04/thanh-tuu-trong-y-te-va-giao-duc-quang.html
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/oi-ngu-can-bo-tung-cap-uoc-tre-hoa.html
Qua Đại hội nhiệm kỳ cơ sở (1993-1995) đã thay thế 127/394 Bí thư chi bộ, Đảng bộ cơ sở, riêng Hải Lăng thay trên 50%. Tuổi đời bình quân cấp uỷ khoá này là 40,38% (khoá trước 41,47%). Công tác cán bộ đã có những chuyển biến đáng kể. Cùng với việc gửi cán bộ đi học ở các Học viện, các trường của Trung ương, Trường Lê Duẩn, trong 3 năm 1993-1995, đã đào tạo, bồi dưỡng 250 cán bộ có trình độ cao cấp, cử nhân chính trị, trên 200 cán bộ cơ sở có trình độ trung cấp chính trị, 500 cán bộ các cấp được bồi dưỡng công tác quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, công tác vận động quần chúng, hàng trăm cán bộ học bổ túc văn hoá, ngoại ngữ, đại học, trung học tại chức; lựa chọn, đề bạt bổ nhiệm 92 đồng chí vào các cương vị chủ chốt của tỉnh (chiếm .50% số cán bộ chủ chốt cấp tỉnh), 169 cán bộ chủ chốt cấp huyện (chiếm 36% cán bộ chủ chốt), thay thế 33% cán bộ chủ chốt cấp xã.
Đội ngũ cán bộ từng cấp được trẻ hoá, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc ít người có tăng lên. Chính sách đối với cán bộ trước Cách mạng Tháng Tám, cán bộ hưu trí, cán bộ đương nhiệm được chú ý thực hiện. Nhìn chung, chất lượng đội ngũ cán bộ có nâng lên, số cán bộ có trình độ đại học và cao cấp chính trị chiếm tỷ lệ ngày càng lớn ở cấp tỉnh và huyện, thị xã. Nhiều cán bộ lăn lộn trong thực tiễn đã trưởng thành, vững vàng hơn trong lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý và điều hành công việc.
Công tác phát triển Đảng đã được nhiều cấp uỷ quan tâm. Mặc dù có nhiều khó khăn nhưng với định hướng đúng và cố gắng của nhiều tổ chức cơ sở đảng nên số lượng đối tượng được bồi dưỡng và kết nạp vào Đảng hàng năm tăng. Trong 5 năm đã kết nạp 1.978 đảng viên.
Phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng có nhiều tiên bộ. Quán triệt nội dung lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mối, các cấp uỷ đảng đã vận dụng vào thực tế, đề ra được những chủ trương, kế hoạch làm định hướng cho sự chỉ đạo, điều hành, tăng cường hiệu lực của cơ quan nhà nước, phát huy sức mạnh của đoàn thể nhân dân.
Phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ đảng có nhiều tiên bộ. Quán triệt nội dung lãnh đạo của Đảng trong điều kiện mối, các cấp uỷ đảng đã vận dụng vào thực tế, đề ra được những chủ trương, kế hoạch làm định hướng cho sự chỉ đạo, điều hành, tăng cường hiệu lực của cơ quan nhà nước, phát huy sức mạnh của đoàn thể nhân dân.
Việc tổ chức bộ máy bước đầu được cải tiên. Nhiều cấp uỷ từ tỉnh, huyện, thị xã và đảng bộ trực thuộc đã bước đầu xác định và cải tiến lề lối làm việc giữa cấp uỷ đảng, cơ quan chính quyển và các đoàn thể trên cơ sở xây dựng quy chế công tác. Việc đưa ra quyết định, các Nghị quyết, Chỉ thị về công tác cán bộ đã được xây dựng và tổ chức thực hiện đúng quy trình. Công tác kiểm tra thực hiện Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng được các cấp uỷ đảng quan tâm. Phong cách làm việc sâu sát cơ sở hơn mà nét mới tiêu biểu là tập thể Thường vụ, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân đã xây dựng và tăng cường chế độ kiểm tra tình hình, kịp thời bổ sung những vấn để cần chỉ đạo và xử lý những vấn đề nảy sinh, tạo niềm tin trong hoạt động thực tiễn ở huyện, thị xã và các ngành. Việc phối hợp giữa các Ban Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận và đoàn thể trong việc triển khai nghị quyết, chỉ thị ngày càng chặt chẽ, chủ động hơn. Nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng được tôn trọng và thực hiện nghiêm túc.
Mặc dù đã có bước phát triển, nhưng đội ngũ cán bộ của tỉnh vẫn trong tình trạng vừa thiếu lại không đồng bộ; tuổi đời bình quân quá cao (49,5), 132 đồng chí cán bộ cấp tỉnh quản lý, trong đó 77 đồng chí có trình độ cao đẳng, đại học, 19% có trình độ lý luận chính trị cao cấp, 75% trung sơ cấp; 373 cán bộ cấp huyện, thị tuổi đời bình quân 42,2, 47 % có trình độ cao đẳng, đại học; 327 cán bộ chủ chốt cấp xã tuổi đời bình quân 42,9% trình độ cao đẳng, đại học chỉ có 3,67%, văn hoá cấp I, II chiếm 70%. Khắc phục từng bước sự hẫng hụt này, Thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Quyết định 173 ngày 15-9-1993 và Quy định số 177 ngày 20-9-1993 về quản lý cán bộ và quy trình công tác cán bộ, đưa công tác cán bộ đi dần vào nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo và quản lý đội ngũ cán bộ theo chế độ tập thể và dân chủ trong việc ra quyết định về cán bộ; khắc phục một bước tình trạng phân tán, tuỳ tiện, thiếu dân chủ và thiếu khách quan trong công tác cán bộ. Trong đề bạt cán bộ, đã chú trọng các yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, ý thức tổ chức kỷ luật, quan hệ với quần chúng, tính Đảng và năng lực thực hiện chức trách được giao.
Thường vụ Tỉnh uỷ vừa sử dụng và phát huy số cán bộ đương nhiệm, vừa tiến hành quy hoạch lại đội ngũ trên cơ sở tiêu chuẩn hoá chức danh cán bộ để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng bằng nhiều hình thức. Qua khảo sát, đánh giá 193 cán bộ chủ chốt (cấp tỉnh 119, huyện 74) thuộc 60 đơn vị cấp tỉnh và 8 huyện, thị xã đã giới thiệu 267 cán bộ có bản lĩnh và năng lực đưa vào quy hoạch kê cận. Nhiều Đảng bộ trực thuộc đã chủ động trong việc xây dựng quy hoạch như Hải Lăng, Đông Hà, Hướng Hoá, Công an, Quân sự và Biên phòng tỉnh. Đến năm 1993 có 50 % Đảng bộ trực thuộc tỉnh xây dựng quy hoạch cán bộ.
Công tác quy hoạch cán bộ gắn với chuẩn bị nhân sự cho Đại hội Đảng các cấp, bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Đã bầu mới 3 đồng chí vào Ban Thường vụ, 1 Chủ tịch Hội đồng nhân dân, 1 Phó Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh; 7 Chủ tịch Hội đồng nhân dân, 4 Chủ tịch Ủy ban nhân dân và 10 Phó Chủ tịch uỷ ban nhân dân các huyện, thị xã. Chỉ định và bầu bổ sung 6 Tỉnh uỷ viên (Hội nghị giữa nhiệm kỳ bầu 5), 48 Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ huyện, thị xã và Đảng bộ trực thuộc (Hội nghị giữa nhiệm kỳ bầu 44) có tuổi đời trẻ, có năng lực và trình độ hơn.
Đọc thêm tại : http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/vai-tro-lanh-ao-cua-ang-oi-voi-he-thong.html
Việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, thu hẹp diện yếu kém được các huyện, thị và Đảng uỷ trực thuộc đặc biệt quan tâm, nhờ vậy, số lượng tổ chức cơ sở Đảng trong sạch vững mạnh năm sau tăng hơn năm trước (năm 1994 so với năm 1992 tăng gần 10%, tổng số tổ chức cơ sở đảng yếu kém năm 1994 so với năm 1992 giảm chỉ còn một nửa).
Hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng từng bước đi vào quy chế, khắc phục được một phần hiện tượng lơi lỏng sinh hoạt Đảng. Vai trò lãnh đạo của Đảng đổi với hệ thông chính trị được tăng cường.
Nhận thức việc rèn luyện bản lĩnh chính trị, trí tuệ và phẩm chất cách mạng của người đảng viên có ý nghĩa quyết định đến năng lực và sức chiến đấu của tổ chức đảng; qua phân tích chất lượng hàng năm, cấp uỷ cơ sở đã tổ chức cho cán bộ chủ chốt học văn hoá, nghiệp vụ, lý luận chính trị và quản lý nhà nước; cung cấp kịp thời thông tin, thời sự để nâng cao nhận thức cho cán bộ đảng viên. Ý thức vươn lên trong học tập và tu dưỡng của đảng viên, nhất là đảng viên trẻ có chuyển biến rõ nét. Số đảng viên được bồi dưỡng nâng cao trình độ hàng năm đều tăng. Đặc biệt năm 1995, trên 5.000 đảng viên được học tập chương trình lý luận phổ thông cơ sở; hơn 1.000 cán bộ được nghiên cứu học tập tập trung có hệ thông về đường lối, quan điểm của Đảng ở trường, lớp.
Các tổ chức đảng không chỉ khuyến khích đảng viên làm giàu chính đáng mà còn quan tâm giúp đỡ những hộ đảng viên nghèo, gặp khó khăn về vốn, kinh nghiệm, các loại giống, cây con. Có huyện, xã, phường, thị trấn lập quỹ xoá đói giảm nghèo để hỗ trợ cho đảng viên làm kinh tế. Do đó, đã lối cuốn đông đảo đảng viên và quần chúng tham gia. Số đảng viên giàu ngày càng tăng lên (tỷ lệ đảng viên giàu so với tổng số đảng viên từ 9,2% năm 1992 lên 13,5% năm 1994, đảng viên nghèo từ 30,6% năm 1992 xuống 24,2 năm 1994). Phân công đảng viên phụ trách theo địa bàn dân cư, theo ngành nghề, phù hợp với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần của Đảng ngày càng tăng (từ 67% năm 1992 lên 87% năm 1994). Vai trò nòng cốt của đảng viên trong các phong trào cách mạng quần chúng được tăng cường.
Thực hiện nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đôn Đảng, các cấp uỷ đã có nhiều cố gắng, thường xuyên chăm lo công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đổi mối phương thức lãnh đạo.
Các cấp uỷ đảng, đảng viên đã nhận thức được vị trí quan trọng của công tác tư tưởng trong tình hình mới, đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách, quan điểm đổi mới của Đảng, xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ những thuận lợi mới, thời cơ mới và những nguy cơ, thách thức đối với sự nghiệp đổi mới.
Các cấp uỷ đảng, đảng viên đã nhận thức được vị trí quan trọng của công tác tư tưởng trong tình hình mới, đẩy mạnh việc tuyên truyền, phổ biến đường lối, chính sách, quan điểm đổi mới của Đảng, xác định nhiệm vụ phát triển kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ sự nghiệp cách mạng, làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân thấy rõ những thuận lợi mới, thời cơ mới và những nguy cơ, thách thức đối với sự nghiệp đổi mới.
Đảng bộ đã coi trọng và thường xuyên giáo dục truyền thống khẳng định những thành tựu của cách mạng, tổ chức những hoạt động kỷ niệm những ngày lễ lớn, khắc phục những biểu hiện phủ định quá khứ tốt đẹp, hoài nghi, dao động trước những khó khăn của đất nước và những tiêu cực từ những mặt trái của cơ chế thị trường; góp phần định tư tưởng trong Đảng bộ và nhân dân.
Đảng bộ cũng đã sớm nhận thức và có những chủ trương, biện pháp đẩy mạnh đấu tranh chống các thủ đoạn chiến tranh tâm lý, chiến tranh tư tưởng của các thế lực thù địch, nâng cao cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Đảng bộ cũng đã sớm nhận thức và có những chủ trương, biện pháp đẩy mạnh đấu tranh chống các thủ đoạn chiến tranh tâm lý, chiến tranh tư tưởng của các thế lực thù địch, nâng cao cảnh giác cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Công tác giáo dục lý luận chính trị có tiến bộ rõ. Việc giáo dục chủ nghĩa Mác- Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về cách mạng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là những định hướng lớn về con đường phát triển đất nước, được triển khai hên tục, rộng rãi.
Tổ chức bộ máy và công tác cán bộ từ sau Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XI đặt ra nhiều việc cần phải giải quyết. Vừa tiếp tục điều chỉnh quy mô một số đơn vị, địa phương, vừa hình thành, sắp xếp củng cố kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan Đảng, thành lập Ban Dân vận, Ban Tài chính Quản trị, phòng Bảo vệ chính trị nội bộ, nhập Trường Đảng với Trường Hành chính thành Trường Chính trị Lê Duẩn. Ban cán sự đảng đoàn tuy không phải là mô hình tổ chức mới nhưng mới được khôi phục lại và thành lập sớm ở Thường trực Hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân tỉnh, huyện và nhiều ngành cấp tỉnh.
Đến năm 1995, cấp tỉnh đã thành lập 6 đảng đoàn, 28 Ban cán sự đảng, ở cấp huyện, thị đã thành lập 26 đảng đoàn, 8 Ban cán sự đảng, giải tán Ban xây dựng Đảng thành lập lại các Ban Đảng (Tổ chức, Tuyên giáo) và uỷ ban Kiểm tra. Đối với các tổ chức cơ sở đảng nhất là ở xã, phường, thị trấn và doanh nghiệp, Thường vụ Tỉnh uỷ đã ra chủ trương ổn định chi bộ theo địa bàn dân cư và đơn vị kinh tế ở nông thôn ở những xã, phường, cơ quan quản lý nhà nước mối thành lập. Các doanh nghiệp sắp xếp theo Nghị định 388 và cơ quan Quân sự huyện nâng lên thành Đảng bộ, nâng tổng số tổ chức cơ sở đảng từ 125 khi mới lập lại tỉnh lên 452 (163 Đảng bộ, 289 chi bộ). Các tổ chức được xây dựng, sắp xếp, kiện toàn đã đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ. Nhiều tổ chức vững mạnh hơn, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành hoạt động từng bước được nâng lên. Chất lượng lãnh đạo ở các cơ quan, đơn vị, địa phương có chuyển biến tiến bộ.
Thứ Năm, 18 tháng 6, 2015
Làm tốt việc phân công và kiểm tra định kỳ đảng viên thực hiện nhiệm vụ được giao và kiểm tra thi hành Điều lệ Đảng, xử lý nghiêm minh, kịp thời những cán bộ, đảng viên tham nhũng, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước”.
Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, trên cơ sở Chương trình hành động số 49 ngày 11-9-1992, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo kết hợp với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) về văn hoá, giáo dục, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ, dân số kế hoạch hoá gia đình, công tác thanh niên và Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VII) về phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn một cách tích cực, chủ động và nghiêm túc đem lại những thành tựu bước đầu, nền kinh tế có bước tăng trưởng, chính trị xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh được giữ vững, đời sống nhân dân nhiều vùng được cải thiện. Những kết quả đó đã củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy và tổ chức Đảng được nâng lên; Đã chấn chỉnh và thực hiện nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, củng cố sự thống nhất về chính trị và tư tưởng.
Quán triệt và thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, trên cơ sở Chương trình hành động số 49 ngày 11-9-1992, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo kết hợp với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá VII) về văn hoá, giáo dục, chăm sóc bảo vệ sức khoẻ, dân số kế hoạch hoá gia đình, công tác thanh niên và Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VII) về phát triển kinh tế – xã hội ở nông thôn một cách tích cực, chủ động và nghiêm túc đem lại những thành tựu bước đầu, nền kinh tế có bước tăng trưởng, chính trị xã hội ổn định, quốc phòng – an ninh được giữ vững, đời sống nhân dân nhiều vùng được cải thiện. Những kết quả đó đã củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy và tổ chức Đảng được nâng lên; Đã chấn chỉnh và thực hiện nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, củng cố sự thống nhất về chính trị và tư tưởng.
Những kết quả đó chỉ mối là bước đầu, xây dựng và chỉnh đốn Đảng vẫn còn những hạn chế: Công tác tư tưởng còn thiếu sắc bén. Việc đổi mới nội dung sinh hoạt Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo còn lúng túng, chất lượng và hiệu quả hoạt động chưa cao. Tư tưởng bảo thủ, thiếu năng động của cán bộ, đảng viên chưa được khắc phục. Hệ thống tổ chức bộ máy chưa thông nhất và thiếu ổn định. Năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp uỷ đảng còn yếu. Đội ngũ cán bộ nhiều nơi hẫng hụt, chất lượng đội ngũ, cán bộ đảng viên chưa được nâng lên kịp với yêu cầu của tình hình và nhiệm vụ mới.
Từ thực tế đó, Tỉnh uỷ đã đề ra nhiệm vụ xây dựng và chỉnh đốn Đảng trong 2 năm 1994-1995: Củng cố và tăng cường sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân, làm cho cán bộ, đảng viên kiên định mục tiêu lý tưởng và con đường xã hội chủ nghĩa, kiên định chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; quán triệt sâu sắc quan điểm và đường lối đổi mới của Đảng; để cao cảnh giác cách mạng, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thử thách, chống âm mưu “diễn biên hoà bình” của các thế lực thù địch; tạo ra chuyển biến mới về nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở và đảng viên. Thu hẹp diện tổ chức cơ sở và đảng viên yếu kém, làm tốt công tác phát triển Đảng để từng bước trẻ hoá Đảng. Đổi mới công tác cán bộ, làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn cán bộ các cấp, tạo bước chuyển biên quan trọng về nâng cao kiên thức, năng lực của đội ngũ cán bộ. Thực hiện đứng nguyên tắc tập trung -dân chủ, nâng cao chất lượng sinh hoạt Đảng, quản lý đảng viên, làm trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên.
Đọc thêm tại:
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/04/thanh-tuu-trong-y-te-va-giao-duc-quang.html
- http://timhieuquangtri.blogspot.com/2015/06/cong-tac-xay-dung-ang-co-nhieu-chuyen.html
Xây dựng thế trận và các phương án phòng thủ chưa đủ mạnh, nhất là ở các hướng chủ yếu; còn thiếu kinh nghiệm trong việc chỉ đạo, bổ sung và tập dượt xử lý các phương án phòng chống gây rối, bạo loạn và lật đổ. Chưa tập trung đúng mức cho việc xây dựng cơ sở, xã, phường, thị trấn một số vùng xung yếu và linh vực trọng yếu. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu chưa đảm bảo, nhất là hệ thống giao thông, liên lạc, kho tàng và phương tiện cơ động. Điều kiện ăn ở sinh hoạt cho cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang tập trung ở một sô đơn vị còn nhiều khó khăn.
Công tác xây dựng Đảng có nhiều chuyển biến. Nhằm nâng cao năng lực chiến đấu của tổ chức Đảng ngang tầm nhiệm vụ mối, ngày 20, 21-8-1992, Tỉnh uỷ Quảng Trị tổ chức Hội nghị quán triệt Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 3 (khoá VII). Gần 200 đồng chí lãnh đạo chủ chốt của các huyện, thị, đơn vị trực thuộc các sở, ban, ngành cấp tĩnh tham gia học tập.
Ngày 11-9-1992 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Chương trình hành động số 49-CT/TƯ thực hiện Nghị quyết Trung ương ba (khoá VII) về chỉnh đốn Đảng, xác định: “Bổi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng, cán bộ, đảng viên ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường, giữ vững niềm tin vào lý tưởng cách mạng, kiên định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Nâng cao cảnh giác cách mạng, chống âm mưu và thủ đoạn “diễn biên hoà bình” của các thế lực thù dịch, kiên quyết đấu tranh với những khuynh hướng cơ hội, giáo điều, những luận điệu sai trái phủ nhận quá khứ tốt đẹp của dân tộc.
Ngày 11-9-1992 Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Chương trình hành động số 49-CT/TƯ thực hiện Nghị quyết Trung ương ba (khoá VII) về chỉnh đốn Đảng, xác định: “Bổi dưỡng nâng cao bản lĩnh chính trị, trí tuệ và năng lực lãnh đạo của Đảng, cán bộ, đảng viên ra sức rèn luyện đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh trong điều kiện kinh tế thị trường, giữ vững niềm tin vào lý tưởng cách mạng, kiên định mục tiêu và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Nâng cao cảnh giác cách mạng, chống âm mưu và thủ đoạn “diễn biên hoà bình” của các thế lực thù dịch, kiên quyết đấu tranh với những khuynh hướng cơ hội, giáo điều, những luận điệu sai trái phủ nhận quá khứ tốt đẹp của dân tộc.
Tổ chức lại Đảng bộ Dân chính Đảng theo hướng hình thành các Đảng bộ cơ sở trực thuộc ngành, củng cố kiện toàn các đảng đoàn, Mặt trận Tổ quốc và ở các đoàn thể (Mặt trận, Phụ nữ, Nông dân, Công đoàn, Hội cựu chiến binh), thành lập đảng đoàn Hội đồng nhân dân tỉnh, tổ chức hợp lý các Ban tham mưu của Đảng ở cấp tỉnh và cấp huyện. Sàng lọc đội ngũ đảng viên, đưa những người không đủ tiêu chuẩn ra khởi Đảng, đồng thời tích cực phát triển đảng viên mói, nhất là ở miền núi, miền biển, vùng có nhiều đồng bào theo đạo. Phấn đấu đến cuối năm 1995 xoá các thôn, bản trắng về tổ chức đảng, tất cả đảng viên được học tập lý luận chính trị.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






